Chương I
N• 1.— Người với vạn vật
Lồng lộng giời cao, thênh thênh bể rộng. Ở trong cao rộng, muôn giống nghìn hình. Có giống thai sinh, có loài trứng nở. Giống hay biến hóa, giống hay nổi chìm. Hai cánh loài chim, bốn chân loài thú. Giống rùa có vỏ, giống cá có vây. Giống cỏ giống cây, đuôi trên đầu dưới. Giống rắn quá tội, không chân không tay. Giống trùn thảm thay, không tai không mắt. Xét trong vạn vật, quí nhất là người. Khác hết mọi loài, mới là người đó. Ơn giời phúc tổ, ta được làm người. Ta đã làm người, nghĩ sao cho đáng.
Chương II
N• 2.— Hình người
Lò giời đúc nắn, ta được làm người. Đầu cao đội giời, chân dày đạp đất. Sáng đôi con mắt, tỏ đôi lỗ tai. Đôi vế đôi vai, cân tay cứng cỏi. Vảy ba tấc lưỡi, núi bể rung rinh. Vươn bảy thước mình, dọc ngang giời đất. Xét suy sự vật, lại có óc khôn. Óc trử linh hồn, thiêng liêng rất mực. Đứng đầu muôn vật, ta chắc mình ta. Ơn ông ơn bà, ta không dám phụ. Đã sinh ta đó, phải tính thế nào. Trâu ngựa hay sao, uổng người ta lắm.
BA TẤC LƯỠI: tài nói năng bàn luận. BẨY THƯỚC MÌNH: mình người ta cao nhất đến bẩy thước, là thước đo người.
Chương III
N• 3.— Tính người
Bề ngoài hình chất, ai khác gì ai. Vì có tính người, khác hơn mọi giống. Da hùm lông phụng, nó cũng vẻ vang. Bởi không thiên-lương, mới ra cầm thú. Tính ta giời phú, có trí có nhân. Nhân biết yêu người, trí hay học thánh. Lại thêm dũng mạnh, chẳng rụt chẳng kinh. Đủ mọi tính lành, là người cao thượng.
THIÊN LƯƠNG: tính lành. CAO THƯỢNG: tốt bực nhất.
N• 4.— Tính tự-động
Giời cha đất mẹ, mới giáng sinh ta. Một tiếng khóc òa, ta ra đời đó. Nhơn nhơn con đỏ, tự nhiên nhi nhiên. Chẳng cậy ai khuyên, chẳng phiền ai giục. Chưa rời đùm bọc, đã sẵn cơ quan. Hay lật hay trườn, hay bò hay chựng. Chốc đà hay đứng, chốc lại hay đi. Hay tự mình hay, ấy là tự động. Sức mình mình dụng, trí mình mình suy. Không đẩy mà đi, không dìu mà đứng. Gió ù mây dựng, ấy vẫn tính người.
TỰ ĐỘNG: mình động lấy, không đợi ai xô
N• 5.— Tính tự giác
Lòng là thợ giỏi, óc là thày hay. Tai mắt chân tay, lại như máy điện. Soi vào thì hiện, như bức gương treo. Gõ đến thì kêu, như chuông nhà Phật. Cơ giới nhiệm nhặt chẳng quỉ mà linh. Là bởi tính mình, tự nhiên cảm giác. Vui mừng, thương giận, chạm thì biết ngay. phải trái dở hay, đụng đâu biết đó. Tính ta giời phú, nào phải đá cây. Hai chữ lương-tri, thiệt là thầy thợ.
TỰ GIÁC: mình biết lấy, không đợi ai bảo.
N• 6.— Tính tự vệ
Hễ là một vật, có một cách khôn. Muốn cho sanh tồn, phải cần tự vệ. Dù loài nhỏ bé, cũng biết mọi đường. Đàn kiến xoi hang, bầy ong gây tổ. Én ngừa mưa gió, ngậm bùn qua sông. Nhạn sợ lạnh lùng, dời Nam tránh Bắc. Người hơn muôn vật, tài trí thông minh. Phong vệ cho mình, nên càng trọn vẹn. Gặp cơn « thiên diễn », gió Á mưa Âu. Hơn được kém thua, khôn còn dại chết. Người ta phải biết, mình giữ lấy mình. Nào vút nào nanh, nào lông, nào cánh. Sức đưa mình mạnh, trí cạnh mình hơn.
So sánh khôn ngoan, giữ gìn chủng tộc. Vệ gia vệ quốc, tức là vệ thân. Vệ cả toàn quần, ấy là tự vệ.
TỰ VỆ: mình giữ lấy mình. ÉN NGẬM BÙN: chim én ngậm bùn làm tổ. NHẠN: chim nhạn sợ lạnh, mùa thu ở miền nam, mùa xuân sang miền bắc.
THIÊN DIỄN: trời diễn ra, lẽ tự nhiên, nói về sự hơn thì được kém thì thua, vật gì cũng thế. CHỦNG TỘC: nòi giống. TOÀN QUẦN: tất cả mọi người.
Chương IV
N• 7.— Lòng người
Tính vẫn không hình, vì tâm mới có. Có tâm làm chủ, gọi là lòng người. Thống suất muôn loài, như quân có tướng. Tướng mà hùng tráng, quân mới phục tòng. Tướng phải ra công, cầm quân cản giặc. Nào là loài giặc, phải biết đích danh, Những món tư tình, những loài tham dục, Nào ăn nào mặc, đua đuổi bề ngoài. Tham sắc tham tài, tự tư tự lợi. Xác thịt làm hại. mất hết tính giời, Giặc đó thiệt rồi, tướng tâm phải biết. Muốn làm thánh triết, cốt phải chính tâm. Đánh được giặc tâm, mới là danh tướng.
CHÍNH TÂM: giữ lòng cho tốt.
N• 8.— Lòng nhân-ái
Loài người sanh dục, gốc vì ái tình. Ái là mậm tình, tình là hạt ái. Bởi hay biết ái, mới gọi rằng nhân. Ta với song thân, với huynh với đệ. Với già với trẻ, đều phải thương yêu. Nòi giống thương nhau, lại là mật thiết. Cũng khí cũng huyết, cũng thịt cũng da. Ta biết thương ta, phải thương người với. Xưa lời Phật nói, lợi kỷ lợi tha. Ái tự một nhà, suy ra một nước. Kìa loài tàn ngược, là giống beo hùm. Người quí tấm lòng, nhất là nhân ái.
ÁI TÌNH: tình thương yêu. SONG THÂN: cha mẹ.
LỢI KỶ: lợi cho mình. LỢI THA: lợi cho người.
N• 9.— Lòng tu ố
Cũng tai cũng mắt, cũng chân cũng tay. Ta so với người, vẫn không gì khác. Cớ sao người được, mà ta lại thua? Chỉ vì ta ngu, mà người thì trí. Người sao mạnh mẽ, mà ta hư hèn? Người sao thánh hiền, mà ta dung tục? Ơn giời nung đúc, ta vẫn con giai. Mang cặp râu mày, lẽ nào trơ trẽn. Ta nên biết thẹn, mới gọi rằng khôn. Xem đứa trẻ con, khi hai ba tuổi. Ai lêu ai chửi, nó đã khóc ngay. Ấy là lương tri, là lòng tu ố.
DUNG TỤC: người tầm thường. TU Ố: biết xấu hổ. LƯƠNG TRI: tự nhiên không ai dạy mà biết.
N• 10.— Lòng từ-nhượng
Gà chung một lồng, cá chung một vũng. Giành ăn đua uống, lúc nhúc lao nhao. Há có lẽ nào, người cùng như nó Đạo giời rành rõ, có trẻ có già. Già là ông cha, trẻ là con cháu. Ông cha ta mộ, con cháu ta yêu. Nhịn ít nhường nhiều, mới là phải lẽ. Tham tài bỏ nghĩa, là giống sói beo. Nạnh ít tranh nhiều, là tuồng chợ búa. Người đời phải có, trật tự thiên nhiên. Yêu dưới kính trên, ấy lòng tự nhượng.
TỪ NHƯỢNG: nhường nhịn. TRẬT TỰ: thứ lớp trên dưới. THIÊN NHIÊN: tự nhiên.
N• 11.— Lòng thị phi
Trắng đen mờ mịt, là mắt người mù. Chèo bội mô hồ, là tai người điếc. Người đời muôn việc, có phải có chăng. Lấy phải làm chăng, lấy chăng làm phải. Lẽ giời đã trái, lòng người còn đâu. Nào vàng nào thau, nào ngọc nào đá. Nào chân nào giả, đạo lý rành rành. Phải xét cho tinh, mới không lầm lỗi. Thánh phàm rẽ lối, cốt ở phải chăng. Một tấm gương trăng, soi cho thấu lẽ. Xin người ghi để, hai chữ thị phi.
THỊ PHI: biết phải chăng. THÁNH: bậc người tốt nhất. PHÀM: bậc người tầm thường.
Chương V
N• 12.— Nghĩa-vụ làm người
Tằm siêng kéo tơ, ong chăm gầy mật. Mèo lo bắt chuột, gà cần gáy đêm. Chức phận nên làm, vật gì cũng có. Huống người ta đó, nghĩa-vụ rất to. Giời đã phó cho, mình nên gánh vác. Nếu mình lười nhác, ở nể ăn suông. Giá áo túi cơm, biết bao xấu hổ. Đầu đen máu đỏ, ta há thua ai. Phải biết chức giời, nhất là nghĩa-vụ.
NGHĨA-VỤ: việc phải làm, không vì lợi mà làm. GIÁ ÁO TÚI CƠM: người ở dưng ăn nể, thì kể như cái giá vắt áo, cái túi đựng cơm vậy.
N• 13.— Nghĩa-vụ đối với mình
Trong vùng giời đất, rất quí là người. Đã đứng ra đời, lấy thân làm gốc. Tay chân tai mắt, là thân một mình. Xã hội gia-đình, là thân toàn-thể. Muốn cho vẹn vẽ, trước sửa lấy mình. Tâm chính ý thành, vun trồng cội gốc. Lại thêm tài học, đua đuổi đông tây. Nghe nhiều xứng tai, thấy nhiều xứng mắt. Biết nhiều xứng óc, đầy óc chất khôn. Lấp bể dời non, chí bền lòng mạnh. Làm hiền làm thánh, cho xứng thân ta. Bởi thân suy ra, đến nhà đến nước. Nẻ cho hết mực, đo kháp vùng giời.
Nghĩa-vụ làm người, lớn lao như thế.
N•14.— Nghĩa-vụ đối với gia-đình
Nhóm muôn ức nhà, mới nên một nước. Gia đình hòa lạc, là nước tiểu khang. Ta phải lo lường, gia đình cho tốt. Dưới thì em út, trên thì ông bà. Giữa thì mẹ cha, với anh với chị. Dựa theo đạo lý, ta hết lòng ta. Hiếu với người già, ơn cùng người trẻ. Hiếu cho phải lẽ, cốt ở tinh thần. Ơn cho có nhân, cốt đường dạy dỗ. Trong nhà khuôn khổ, nên kiệm nên cần. Rộng lối làm ăn, gây nên tự lập. Trong ngoài mọi bực, thằng ở con hầu. Ta phải thương yêu, dắt dìu dạy bảo. Chia cơm sẻ áo, ân ý chu toàn.
Chớ lạm quyền trên, chớ kiêu người dưới. Đàn bà con gái, là gốc tề gia. Nhà có phép nhà, càng nên chỉnh đốn, Gia đình mĩ mãn, tiếng lành đồn xa. Chòm xóm lân la, gần đèn thì sáng. Một nhà nhân nhượng, một nước cũng vầy. Nghĩa-vụ ta đây, mới là trọn vẹn.
TIỂU KHANG: kha khá.
N• 15.— Nghĩa-vụ đối với xã-hội
Tứ bề xã-hội, bao bọc mình ta. Từ gần đến xa, một dây vấn vít. Vải nhờ gái dệt, ruộng nhờ giai cày. No ấm tháng ngày, là ơn người đó. Buôn nhờ chợ búa, nghề có thợ thuyền. Ăn tiêu quanh niên, nợ người sao khỏi. Nếu không xã-hội, còn có mình đâu. Ta phải tính sao, cho tròn nghĩa-vụ. Lợi chung với họ, ta phải đắp bồi. Hại chung với người, ta nên cứu chữa. Nhà chung e phá, ta phải giữ gìn. Thuyền chung sợ chìm, ta lo chèo chống. Lợi gì công cọng, ta phải mở mang. Nghiệp gì chung nhau, ta nên gắng gỏi.
Ngọn đèn soi tối, máy nước uống chung. Bao nhiêu việc công, ta nên hết sức. Hội thương hội học, hội nông hội công. Việc xã-hội chung, ta nên giùm giúp. Vun trồng cội phúc, quạt thổi gió xuân. Bênh vực quốc-dân, đều là nghĩa-vụ.
CÔNG CỌNG: chung nhau.
N• 16.— Nghĩa-vụ đối với quốc-gia
Góp nghìn muôn nhà, mới gây nên nước. Nước có quyền nước, mới giữ được nhà. Nước tức là nhà, nhà tức là nước. Vậy nên nhà nước, hai chữ liền nhau. Nước là nhà to, nhà là nước nhỏ. Cơ đồ tiên-tổ, thành quách non sông. Xương trắng máu hồng, gầy nên gấm vóc. Con Hồng cháu Lạc, nối nghiệp đời đời. Ruộng ta ta cày, rãy ta ta phở. Nhà ta ta ở, của ta ta ăn. Ta là quốc-dân, nghĩa chung thờ nước. Mất còn sống thác, cùng nước thủy chung. Đất lở giời long, gặp cơn biến cố. Nước không quyền nước, nhà còn được đâu.
Kiếp ngựa thân trâu, nghĩ càng đau đớn. Đồng ưu cọng hoạn, ta phải tính sao. Dắt díu đồng bào, giữ gìn nòi giống. Nào người trí dũng, nào kẻ anh tài. Rán sức chống giời, bền gan lấp bể. Sao cho vẹn vẽ, nghĩa-vụ quốc-dân. Ai cũng một phần, chung nhau gánh vác. Nước còn quyền nước, nghĩa-vụ mới xong. Muôn người một lòng, ta nên ghi tạc.
HỒNG LẠC: tiên tổ nước ta. ĐỒNG ƯU CỌNG HOẠN: lo lắng chung nhau.
Chương VI
N• 17.— Quyền lợi
Đạo người rất phải, luật giời rất công. Nghĩa-vụ đã xong, há không quyền lợi Miệng có quyền nói, óc có quyền suy. Chân có quyền đi, tay có quyền đẩy. Mắt có quyền thấy, tai có quyền nghe. Đất nọ xứ kia, có quyền dời ở. Viết sách làm vở, quyền bút mặc lòng. Hội hè việc chung, có quyền nhóm họp. Thợ thuyền giúp đáp, quyền được chung nhau. Bán bộ buôn tàu, thông thương tùy tiện. Trải xem pháp hiến, các nước văn minh. Quyền lợi rành rành, của dân dân được. Bởi vì gốc nước, cốt ở nhân dân.
Có trọng quyền dân, mới cao quyền nước. Quyền dân giữ được, thì lợi càng nhiều. Nghĩa-vụ bao nhiêu, bấy nhiêu quyền lợi. Vốn tất có lãi, ấy đạo công bình. Quyền lợi của mình, đồng bào phải biết.
PHÁP HIẾN: phép nước.
Chương VII
N• 18.— Nghĩa hai chữ « độc lập »
Nhà kia bốn cột, hai trước hai sau. Thuyền kia hai chèo, một tả một hữu. Che mưa cản gió. chống sóng đuổi chiều. Sức phải cân nhau, đôi bên đứng vững. Thân ta ta dựng, chẳng nương cậy người. Không phiền lụy ai, không ai đè nén. Xây non lấp biển, quấy nước chọc giời. Đáng bực làm giai, là người độc lập. Nhiều người độc lập, mới dựng nên nhà. Độc lập nhiều nhà, mới dựng nên nước. Nhớ lời thánh trước. kỉ lập lập nhân. Chớ có nhận lầm, hai chữ độc lập.
KỶ LẬP LẬP-NHÂN: mình lập mình rồi lập cho người.
Chương VIII
N•19.— Nghĩa hai chữ « tự-do »
Cá trong bể rộng, mặc sức vậy vùng. Chim trên trời cao, tha hồ bay liệng. Đạo giời đặt định, người được tự-do. Song le tự do, có hai đường lối. Có thật có dối, có thị có phi. Nếu sai một ly, thì đi một dặm. Thánh hiền mô phạm, Cốt chính thân mình. Vứt cả lợi danh, ngoài vòng cương tỏa. Quyền thây ai cả, ngôi kệ ai cao. Ngất ngưởng mặc dầu, trong vòng đạo đức. Suy ra tiếp vật, mực thẳng đường ngay. Nhằm lối ta đi, đố ai ngăn cản. Trăm đường hoạn nạn, một mực khoan thai. Tự do đường này, ấy là chân chánh.
Xưa nay thần thánh, quí trọng tự do. Há như ai đâu, ăn càn nói loạn. Chân hươu tay vượn, miệng khướu mắt đồi. Lêu lổng rông rài, toàn không đạo đức. Đó là đạo tặc, há phải tự do. Hai đường khác nhau, ai ôi xin xét.
CƯƠNG TỎA: dây cương và khấu sắt để khóa mồm ngựa. Ví như người ở trong vòng tôi tớ bó buộc.
Chương IX
N• 20. — Thế nào là ái quốc
Nòi giống tiên rồng, máu da Hoàng-hán. Chôn nhau cắt dún, ở đất nước nhà. Nước là mẹ ta, ta là con nước. Thân con có phước, nhờ mẹ lâu dài. Mẹ mất con côi, còn gì thân thể. Cuộc đời dâu bể, giời cướp mẹ mình. Hồn mẹ lênh đênh, nỗi con chua xót. Nào người tâm huyết, máu chảy ruột mềm. Quên mẹ sao nên, phải thương đến nước. Song le ái quốc, há phải nói không. Ái cốt ở lòng, ái không ở miệng. Người ái quốc miệng, bán tiếng mua danh. Dối người dối mình, trộm nhân trộm nghĩa. Ái mà ái thế, không ái còn hơn.
Hại cả toàn quần, yêu gì đến nước. Hỡi người ái quốc, xin ái thiệt thà. Quên mình quên nhà, chỉ biết có nước. Tùy tài tùy sức, lớn nhỏ mặc lòng. Góp giọt làm sông, chất hòn nên núi. Nhiều tay xúm lại, cơ nghiệp nước mình. Mừng mẹ tái sinh, thỏa lòng ta ái. Thế cùng sông núi, giữ tấm lòng ngay. Ái quốc ai đây, thiên vàn ghi tạc.
HOÀNG HÁN: tên chung giống người nước Tàu cùng nước ta.
Chương X
N• 21.— Độc lập với hợp quần
Hai chữ độc lập, với chữ hợp quần. Hình thức tuy phân, tinh thần vẫn hợp. Nhiều người tự lập, hợp lại nên quần. Nhóm họp tinh thần, quần ta độc lập. Cây nhiều núi rậm, nước nhiều biển sâu. Quần hợp với nhau, việc càng to tát. Muôn nghìn sức góp, sức mạnh ai hơn. Góp muôn nghìn khôn, khôn không xiết kể. Tạo thời tạo thế, muôn nghìn anh hùng. Quần đã hợp xong, khó gì độc lập. Vậy nên độc lập, với chữ hợp quần. Theo bề tinh thần, vẫn hai mà một. Kìa nước Ai-cập, có học-sinh-đoàn.
Nước Phi-luật-Tân, có thanh-niên-đội Mọi người mọi giỏi, độc lập một quần. Giỏi cả mọi quần, độc lập một nước. Tính đường sau trước, khấn nguyện quốc-dân. Nhóm người nên quần, nhóm quần nên nước.
HỢP QUẦN: nhóm bầy. AI CẬP: nước châu Phi. HỌC SINH ĐOÀN: hội các học trò. PHI-LUẬT-TÂN: nước ở châu Á, về phía đông nước ta. THANH NIÊN ĐỘI: hội các người tuổi trẻ.
Chương XI
N• 22.— Cần kiệm là nguồn bề nhân ái
Nhân, nghĩa là ái, ái, nghĩa là yêu. Người nên yêu nhau, mình yêu người trước. Thấy người đói rét, mình phải âu lo. Một mình ấm no, dám đâu vui vẻ. Ở trong bốn bể, ai cũng anh em. Chia áo sẻ cơm, lòng ta mới thỏa. Người no ấm cả, là hạnh phúc chung. Lên tháp đại đồng, nhờ thang bác-ái. Ta nên gắng gỏi, phải kiệm phải cần. Xưa Nã-phá-Luân, ở trong quân ngũ. Đêm không yên ngủ, sách chẳng rời tay. Kể người Thái-tây, ông là thứ nhất. Xưa Lưu-Việt-Thạch, gối đòng suốt đêm. Giấc ngủ không êm, nghe gà dậy múa.
Xưa vua Hạ-Vũ, trị thủy tám năm. Một tấc quang âm, qúy hơn thước ngọc. Người ta phải học, các bậc thánh hiền. Muôn sự làm nên, chữ « cần » cốt nhất. Lại nên thêm biết, chữ « kiệm » là hay. Như ông Găng-đi, thánh hùng Ấn-độ. Ngày hai chén sữa, với hai bát cơm. Ăn thì ăn chay, mặc thì mặc vải. Tiêu dùng mọi lối, rặt của nước mình. Như ông Lý-Ninh, tài cao hơn chúng. Ăn theo lao động, mặc theo thợ thuyền. Vải mốc bánh đen, vì ai cơ khổ. Kìa hai người đó, há phải đói nghèo.
Vì dốc lòng yêu, phải quên mình khổ. Việc không gì khó, cốt mình hay cần. Của không sợ bần, cốt mình hay kiệm. Cần thì không kém, kiệm thì có thừa. Lại sẵn thì giờ, ta giùm xã hội. Gánh gì chẳng nổi, việc gì chẳng xong. No chung ấm chung, vui cùng thiên hạ. Kìa Au đây Á, bình đẳng tự do. Càng nở càng to, thênh thênh bể ái. ngọn nguồn gốc suối, cần kiệm làm đầu. Ai nấy bảo nhau, khắc cần khắc kiệm.
CẦN: siêng năng. KIỆM: dành dặt. ĐẠI ĐỒNG: cả thiên-hạ như một nhà gọi là đại đồng. BÁC ÁI: rộng yêu. NÃ-PHÁ-LUÂN: vua anh hùng nước Pháp. LƯU VIỆT THẠCH: người nước Tàu, về đời nhà Tấn, gặp lúc trong nước loạn, ông có chí dẹp giặc yên dân, đêm nằm thì gối cây dòng, nghe gà gáy thì vội dậy, cầm đòng mà múa như cách ra trận. QUANG ÂM: bóng sáng, thời giờ. ẤN ĐỘ: nước ở châu Á, tức là nước Thiên-trúc. LÝ NINH: người đầu đảng cách mệnh nước Nga la-Ty. LAO-ĐỘNG: người làm lụng khó nhọc.
Chương XII
N•23.— Gian nan khốn khổ là trường học anh hùng
Có gan sắt nguội, mặc sức rèn tui. Có chất vàng mười, tha hồ mài xát. Khó khăn mọi việc, là đá thử vàng. Nguy hiểm mọi đường, là lò nung sắt. Đắng cay chua chát, ấy vị ngọt ngon. Khốn khổ gian truân, ấy trường khoái lạc. Xem trong sử sách, hào kiệt xưa nay. Nuốt đắng ngậm cay, gây nên đại nghiệp. Kẻ đền thù nước, kẻ thỏa chí mình. Kẻ lập công danh, kẻ xuây vận mệnh. Treo gương thần thánh, chói giọi muôn đời. Động đất ran giời, tiếng vang bốn bể. Anh hùng tạo thế, nhân định thắng thiên.
Sắt chẳng chối rèn, vàng không sợ xát. Đắng nhiều mới ngọt, buồn rất mới vui. Khấn nguyện mọi người, vào trường giời dạy.
KHOÁI LẠC: vui xướng. NHÂN ĐỊNH THẮNG THIÊN: người làm giỏi thì thắng được số trời.
Chương XIII
N•24.— Thất bại là mẹ thành công
Tay ba lằn gãy, mới biết thuốc tiên. Đánh trăm trận quen, mới hay tướng giỏi. Nếu không thất bại, sao có thành công. Xưa nay anh hùng, tầng thua mới được. Cờ vì lỡ nước, bán trước chịu thua. Tính kỹ toan sâu, bàn sau chắc được. Chông gai ngan ngác, sóng gió tơi bời. Vượt núi qua vời, vẫn nhiều gian trở. Vấp cây chạm đá, là thợ đem đường. Lỗi hướng lầm phương, là thầy chỉ lối. Càng nhiều thất bại, càng chắc thành công. Xin chớ ngã lòng, xin càng bền chí. Ngã rồi liền dậy, muôn dặm không xa.
Chèo mãi sẽ qua, bờ kia hẳn tới. Giời đâu ta hỏi, xem thử gan già.
THẤT BẠI: hư hỏng. THÀNH CÔNG: việc làm nên.
HẾT
