Cuốn thứ nhứt
Tiết sang trùng-cửu, thời đến mộ-thu, mận nãy chồi sương, non quay bóng nhạn, lải rải sân ngô rơi lá bạc, le the giạu cúc trổ bông vàng. Lúc bấy giờ, đương buổi đêm thanh gió mát, lại thêm trăng tỏ làu làu, gặp cảnh tượng như vầy, những khách phong-lưu, ai là người không mượn lấy chén rượu với chung trà mà vui vầy cùng bạn tác.
Nhưng, cũng thì là đêm thanh gió mát, mà người vầy kẻ khác, thật cảnh cũng khéo chìu người; bỡi vậy cho nên, cũng đồng một trời một đất, một gió một trăng, mà người vui-vẻ, kẻ nhố-nhăn, mỗi người riêng mổi cảnh.
Ấy là: Người vui ngắm cảnh thêm vui, người buồn ngắm cảnh lại xui lòng buồn.
Trong một khoảnh vườn kia, phương viên độ chừng một mẫu, cam quít sum sê, bưởi bòng thạnh mậu; phía trước có một hàng dừa suôn đuột, phía sau thêm mấy bụi trúc xanh um; chính giữa có một tòa nhà ngói 5 căn, vì cất đã lâu năm, cho nên gạch ngói cũ mèm, vừa ngó thấy thì đã biết đó là một cảnh nhà giàu xưa vậy.
Nhưng mà, nhà tuy đã cũ, song cách ở ăn vén khéo, trong ngoài sau trước sạch sẻ chẳng ai bằng. Trước sân có trồng đủ các thứ danh-hoa, có ao nuôi cá, có chỗ rộng chim, có hồ thả sen, có hòn non bộ. Những khách qua lại ngoài đường, hễ vừa ghé mắt trông vào, tuy chẳng đợi hỏi ai, mà cũng biết người ở trong nhà ấy hẳn ắt là một tay hào-hoa phong-nhả.
Trong một cảnh nhà rất có vẻ phong-lưu như vậy, mà sao trong đấy lại có một người trai-tơ trạt chừng hai mươi ngoài tuổi, hình-dung thãm đạm, áo nảo âu sầu, xem ra dường như có cái tâm-sự gì mà ưu-uất lắm vậy.
Nguyên nhà nầy là nhà của một ông cựu nho kia tên là Đổ-khắc-Thới, vợ ông là Đoàn-thị, ở tại Chợ-gạo thuộc về tĩnh Mytho cách tĩnh thành chừng 12 cây số (12 kilomètres); nhà ông giàu có đã nhiều đời, lại thêm ông là người thanh-bạch, đạo đức hoàn toàn, cho nên tự quan chí dân người người đều kính phục.
Còn người trai-tơ mới nói trước kia vẩn là con của ông, tên chàng là Đổ-khắc-Xương, tuổi vừa 24 xuân-thu, thông minh dỉnh huệ, tài trí quá nhân, diện-mạo khôi ngô, hình-dung tuấn nhả; nho-học đã thông mà tây-học lại thêm lội lạc. Ay rõ ràng là: Nền phú hậu, bực tài danh, văn chương nét đất, thông minh tánh trời.
Vì thế mà có nhiều nhà hào-hộ phú-gia, đều gấm ghé muốn làm suôi với ông; nhưng mà, ông là người lịch duợt thế-tình, cho nên những kẻ muốn làm suôi với ông, tuy là nhà giàu rân rát mặc dầu, mà ông cũng chẳng ham, vì ông đã biết rõ những hạng người ấy đều là kẻ tham phú phụ bần, xu quyền phụ thế, nên ông khinh bỉ mà chẳng chịu hứa lời, cứ ừ hử gọi là, cho qua ngày qua buổi.
Còn Đổ-khắc-Xương, học hành tuy giỏi, mà bị câu: Tài bất thắng thời, cho nên chàng học tại trường Bổn-quốc 5 năm, những bạn học một lớp với chàng, ai ai cũng nể mặt. Ngặt vì ông xanh hay gay gắt, tài mạng chẳng ưa nhau, sức chàng học tuy cao, mà thi hai khoa đều hỏng.
Chẳng những vậy mà thôi, phần thì ông Đổ-khắc-Thời là người đạo-đức, lại thêm tánh tình hào hiệp, lòng dạ khoan nhơn, xem bạc tiền như đất, trọng nhơn nghĩa hơn vàng; những kẻ nghèo mắc nợ của ông mà trả không nổi, ông cũng chẳng nỡ đòi; còn tá-điền rủi bị thất mùa không lúa ruộng mà đong, ông đã không làm khổ khắc là may, lại còn đong lúa nhà giúp thêm cho đủ no mà chờ mùa tới. Những kẻ cùng khổ trong làng, rủi có đau mà chết, ông lại bố thí quách quan, hoặc giúp thêm bạc tiền mà chôn cất. Mỗi khi có tai trời ách nước, những kẻ rủi vì bão lụt mà phải đói rách khốn cùng, thì ông cũng chẳng tiếc bạc ngàn, đem ra mà tế cấp.
Nhưng bỡi tánh ông từ-thiện, chẳng hay khổ khắc và sâu mọt của ai, mà ông chỉ cứ bố thí ra hoài; số thâu thì ít, số xuất thì nhiều, lại thêm luôn mãi 4 năm trời, mùa màng thất bát, cho nên gia-vận phải suy vi, lần lần ruộng đất tiêu mòn, chỉ còn tròi trọi có một cái nhà ngói năm căn với một mẫu vườn, huê-lợi chẳng bao nhiêu, mà tánh ông huy hoát đã quen, cho nên bề nhựt dụng tài nào mà không hụt. — Thật là lời thầy Mạnh nói chẳng lầm: hễ vi phú thì bất nhơn, mà vi nhơn thì bất phú.
Lúc bấy giờ, gia đạo của ông tuy đã suy vi, song ông cũng khăn khắn một lòng, cứ lấy chữ thanh bần mà làm gốc.
Ngày kia ông đang xơi nước với bà, bổng thấy tên lính trạm ngoài ngỏ bước vào, chấp tay xá ông rồi trao cho ông một phong thơ; việc tình cờ nên không biết là thơ của ai, đến khi mở ra xem hết đầu đuôi thì mới rõ là thơ của một người bạn-hữu của ông tên là Hoàng-hữu-Tâm đang làm thầu-khoán (Entrepreneur) ở Bắc-kỳ; Ông nầy vốn là người Vinhlong, trước kia vẫn có giúp việc cho nhà-nước Đại-pháp, làm đến chức Thông-phán, đổi ra Bắc-kỳ đâu được ít năm, nhằm lúc Chánh-phủ đặt đường xe lửa từ Hà-nội qua Vân-nam, ông bèn xin từ chức, ra làm nghề thầu-khoán. đứng đấu giá bao lãnh nạp cây cho nhà-nước làm đà xe-lửa và lãnh đổ đá sỏi trải đường; lần lần như vậy ít năm, bề sanh-kế của ông rất nên phát đạt. Mà thường những kẻ có chí dinh thương, hễ may mà gặp vận rồi thì cuộc thương-mải khoán trương rất chóng. Ngặt vì ông còn thiếu người tin cậy mà phú thát những việc lớn-lao. Nay ông nghe ông bạn của ông là Đỗ-khắc-Thới ở trong Nam-kỳ, tại tĩnh Mỷ-tho, vì thất mùa luôn trọn 4 năm, làm cho gia-vận phải suy vi, không còn có thế chi mà duy trì cho nổi nữa. Nhưng ông vẫn biết ông Đỗ-khắc-Thới tuy là người bên phái nho-học mặc dầu, song nhờ có ưa xem ưa đọc những tân-thơ; lại hay chuyên tâm nghiện cứu về môn khoán-vật-học (Minéralogie). Vã lại ông dòm thấy Bắc-kỳ là một giãi đất tối cổ, lâm-sản nhiều mà khoán-sản cũng nhiều, nên ông mới viết thơ mời ông Đỗ-khắc-Thới ra, trước là cho anh em được gần-gủi với nhau, sau là cho có người đồng chí với mình mà giản cứu về nghề khai khoán.
Còn ông Đỗ-khắc-Thới khi xem thơ rồi thì có ý mừng thầm, vì bấy lâu ông vẫn có chí muốn du-lịch Bắc-kỳ mà chưa đi được; nay sẵn gặp dịp tốt như vầy mà chẳng tính đi chớ còn đợi lúc nào. Ông nhứt định như vậy, bèn lo sắp đặt việc nhà đâu đó an bài, rồi từ giã vợ con mà đi ra Bắc. Đỗ-khắc-Xương theo đưa cha lên tới Saigon, đến khi ông xuống tàu rồi chàng mới trở về nhà, hủ hỉ sớm trưa với mẹ.
Gần đó lại có quan phủ đương quyền, tên là Từ-thế-Anh, ngồi Chủ-quận tại đó, vợ là Nguyễn-thị, sanh được một gái, tên là Từ-mộ-Trinh, mới 18 tuổi mà hình dung yểu điệu, cốt cách phương phi, gương mặt chữ điền, chơn mày vòng nguyệt, gót chơn cô đỏ như thoa son, ngón tay cô tròn như roi trống, cổ cô đã nhỏ, vai cô lại xuôi; hàm răng của cô đều-đặn như cưa, gò-má của cô có núng đồng tiền tròn ủm; càng xem lâu chừng nào thì lại càng thấy cái sắc đẹp của cô như một đóa phù-dung.
Cô đã có cái vẽ xinh-đẹp như thế, mà cô lại còn thêm có khiếu thông minh; học chữ cũng hay, học đờn cũng giỏi, họa tranh cũng đúng, cờ tướng cũng tài; gia dĩ dung hạnh đoan trang, ngôn từ nghiêm chánh. Hai ông bà câng cô như trứng mỏng, mà cô chẳng hề đỏng đảnh như những gái tầm thường; mỗi khi cô có cần dùng đều chi mà sai khiến kẻ ở trong nhà, thì cô nói cái giọng rất ngọt ngào, ai nghe tới cũng êm tai mát dạ. Bỡi cô là một người con gái sắc tài gồm đủ, đức hạnh vẹn hai, cho nên tự trong tới ngoài, xa gần đều nức tiếng.
Cô lại có một nàng tỷ-tấc, tên là Trần-lệ-Dung, mới 17 tuổi mà dung nhan sắc-sảo, tánh nết nhu-hòa; lại thêm có khiếu thông-minh, bề học-thức sánh với cô cũng xấp-xỉ.
(Nguyên Trần-lệ-Dung nầy cũng là con nhà thi-lễ, dòng dỏi thơ-hương; nhưng rủi vì cha mẹ nàng mất sớm, không ai bảo thủ gia-nghiệp cho nàng, bị những kẻ bất-lương nó mạo xưng rằng chú chú, cô cô, kẻ khuân món nầy, người đoạt món kia, làm cho sự-nghiệp tiêu điều, nàng phải ra thân tất-tưởi; lại còn bị một bà cô bạc-ác, thấy nàng còn nhỏ dại, bắt nàng đam đợ phứt cho quan phủ Từ-thế-Anh. Thiệt là độc địa bấy cao-xanh, xưa nay những kẻ có tài-tình, ắt chẳng khỏi bị Hóa-công đày đọa.
Ấy là: Bắt phong-trần phải phong-trần, cho thanh-cao mới được phần thanh-cao.
Từ ngày Lệ-Dung vào ở đợ nơi nhà quan Phủ, ban đầu thì nàng cũng phải châm lo làm lụn các việc hèn hạ, như là rửa chén, bửa củi, quét nhà, theo phận tôi đòi ở nơi nhà dưới. Sau lần lần bà phủ thấy nàng dung nhan mỹ lệ, cử chỉ đoan trang, ăn nói đàng hoàn, nết na đầm thấm; bà mới đem lòng thương, bèn bảo nàng lên ở nhà trên, giúp đỡ việc thêu thùa với con bà là nàng Từ-mộ-Trinh sớm trưa cho có bạn. Mà thường những con nhà có giáo-dục dầu gì cũng dễ chịu, bỡi vậy cho nên, tuy Lệ-Dung đã được lên ở nhà trên mà bậu bạn với Mộ-Trinh thì mặc dầu, song nàng cũng cứ giữ phận tôi-đòi; không thêu-tỉu cũng vá-may, ngày chí tối chẳng hề dám để hở cái tay trong giây phút.
Lần lần đầu lạ sau quen, Từ-mộ-Trinh biết rõ lai-lịch của nàng vốn là dòng dỏi thơ-hương, thi họa cầm kỳ, nghề nào cũng thạo; từ đó đến sau, lúc đua nghề vẽ, lúc lại đánh cờ, hoặc đàm luận thế-tình, chị em ý hiệp tâm đầu, lấy làm tương đắc. Bà phủ thấy vậy lại càng cắp-củm mừng thầm, cho nên tuy Lệ-Dung là tôi-tớ của bà, mà bỡi bà yêu vì nết, trọng vì tài; cách đối-đãi bà xem nàng cũng như con ruột.
Bà lại nhơn thấy con của bà, phận tuy là gái, mà thông minh tuyệt thế, kiến-thức quá nhơn; cho nên bà đã lập tâm, quyết kiếm cho được một người giai-tế, tài mạo lưỡng toàn, thì bà mới chịu gả nàng cho xứng đôi vừa lứa.
Mà bỡi Từ-mộ-Trinh là con nhà sang trọng, đã có tài lại thêm có sắc; cho nên thiếu chi nhà hào-hộ danh-gia, nay có con quan phủ nầy mai có con quan huyện kia, hoặc con ông Hội-đồng, hoặc con thầy Cai-tổng, biết bao người muốn đến cầu hôn. Ngặt vì mấy cậu công-tử nầy tuy là nhà-cữa giàu sang, mà cậu thì có tài lại không có mạo, còn cậu thì có mạo lại chẳng có tài; vì vậy mà chẳng những là bà phủ đã chẳng vừa lòng, mà Từ-mộ-Trinh cũng không đẹp ý.
Một đêm kia hai chị em đương ngồi trong buồng mà thêu với nhau, Từ-mộ-Trinh vùng vổ vai Trần-lệ-Dung mà nói rằng: « Nầy em, từ ngày chị gặp được em đến nay, đôi ta ý hiệp tâm đầu, thiệt rõ ràng em là Khuê-trung lương-hữu của chị đó. Bỡi vậy cho nên chị hằng tin cậy em như ruột thịt vậy, chẳng có việc gì mà chị không nói thiệt cùng em; vậy sẵn lúc nầy đêm vắng canh khuya, để chị tỏ hết cái tâm-sự của chị cho em nghe, hoặc là em có cái kiến-thức chi cao mà luận bàn cho nó hã cái lòng uất-ức của chị được chăng. Vã con người ta ở đời là trọng vì tài đức, chớ không phải trọng lấy bạc tiền, mà sao chị coi cái nhơn-tình buổi nầy phần nhiều họ hay trọng cái sự giàu sang trước mắt, mà họ không biết dè-dặc cái đều nguy hiểm sau lưng. Bỡi vậy cho nên có nhiều nhà đã có phước mà sanh con gái được hình dung xinh đẹp, đức hạnh lại hoàn-toàn; đến lớn khôn họ lại không biết kén chọn rể hiền, cũng như châu-chấu thấy sáng đèn, hễ nghe giàu sang thì gả bướn. Đó! Em nghĩ lấy đó em coi, như may mà gặp được kẻ biết đều, thì dầu có dốt cũng còn dễ chịu; nếu rủi mà đụng nhằm mấy tay công-tữ-bột, thì ôi thôi! Thôi còn chi nữa mà mong, đời người đến thế là xong một đời! Bỡi nghĩ vậy, cho nên chị đã thệ tâm, nguyện cùng trời đất, quyết chọn cho được một người tài mạo lưỡng toàn, đức hạnh gốm đủ, thì chị mới đành gởi phận trao thân. Bằng chẳng vậy, thôi thì thà là ở vậy mà hủ hỉ với em đây còn hay hơn là thất thân với những kẻ phàm-phu tục-tử. Nhưng, chị trộm xem cái ý của mẹ chị thì cũng đồng như chị vậy, duy còn cha chị thì chị chưa dò biết được cái ý của người ra thể nào. Ngặt những cậu cô chú bác của chị, có nhiều người hay trọng vì cái thế-lực kim-tiền; nên thường hay tới lui bàn luận với cha mẹ chị, bảo cha mẹ chị phải lựa cho được những chỗ quyền cao tước trọng, hoặc là giàu sang cho tột bực thế-gian thì sẽ làm suôi, để phòng ngày sau cho có chỗ mà tương y tương ỷ với nhau trong khi huởn cấp. Thiệt chị thấy những lời của mấy người ấy bàn luận mà chị bắt lạnh mình. Em ôi! Sang giàu mà chi? Thế-lực mà chi? Nếu giàu sang mà thất đức, có thế lực mà bất nhân, gian manh tham nhủng, sâu mọt của dân; thì cái giàu sang ấy, cái thế-lực ấy có khác chi hơn là hòn núi tuyết; nếu gặp mặt trời có yến sáng chiếu vào, thì ắt tiêu tang trong nháy mắt. Đã biết vậy, nhưng chị lại lo vì cha chị tuy là người có học-thức, người trong đám cân-đai thì mặc dầu, mà hễ nếu mấy người ấy họ tới lui to nhỏ, giọng quyển tiếng kèn, kẻ đờn người thổi mãi riết đây rồi; vạn nhứt cha chị cũng lầm nghe theo họ mà sa vào cái vòng thế-lực kim-tiền rồi; còn chị đây lại là phận làm con, xưa nay dễ áo mặc qua khỏi đầu; chừng ấy mới tránh sao cho khỏi. Bỡi thế cho nên chị rất lo sợ cho cái tiền-đồ của chị, không biết sau nầy duyên phận thể nào? Cho nên: Một mình lưỡng lự canh chầy, đường xa nghĩ nỗi sau nầy mà kinh... » Lệ-Dung đương thêu, nghe nói tới đó vùng ngừng kim lại, nhìn sửng Mộ-Trinh rồi mĩn cười mà nói rằng: « Thiệt bấy lâu em không nghe chị nói đến, nên em cũng chẳng dám hở môi; chớ như nay chị đã tin em mà tỏ thiệt cái tâm-sự của chị ra rồi, thì em đi há chẳng hết lòng với chị mà đền ơn tri-ngộ hay sao? Vã buổi nầy những đấng tài tình thì ít, còn những phường công-tử-bột thì nhiều; nếu mình chẳng biết khéo toan năm lọc mười lừa, để cho rủi mà sa nhằm trong tay bọn ấy đi rồi thì ối thôi! Phẩm tiên rơi đến tay hèn, hoài công nắng giữ mưa gìn với ai. Nhưng em lại nghĩ, tài sắc như chị vậy thì có lo chi là không nơi giàu-có sang-trọng mà sánh đôi. Ngặt em e vì trong hạn người ấy phần nhiều thường có những người giàu sang trong trứng mà giàu ra, nên hễ họ thấy có của sẵn thì cứ việc ăn xài, lảng phí chơi bời; chớ họ có biết cái công-lao khó nhọc của ông cha xưa đã tươm hết bao nhiêu mồ-hôi máu mới có cái sự-nghiệp ấy đâu. Mà cái cách của họ xài là xài với những bọn buôn hương bán phấn, xài với những phe tửu-điếm trà-đình, dầu hao tốn bạc muôn cũng không biết ngán; chớ chẳng hề thấy họ làm đều chi hữu ích cho Xả-hội được nhờ. Những hạng người như vậy thì chị em mình đây có thế nào mà chịu cho nổi được; phải không chị? » Mộ-Trinh và gặt đầu và cười. Lệ-Dung lại nói tiếp theo rằng: « Còn như bây giờ mà muốn kiếm cho được một người hiền-lương phương-chánh, tài-đức vẹn toàn, xứng đáng cho mình sửa trắp nưng khăn, thì xin chị chớ có luận tới cái sự sang hèn giàu khó, chị nghĩ sao? » Mộ-Trinh gặt đầu khen phải, rồi bước lại gần vổ vai Lệ-Dung, chúm-chím miệng cười và nói rằng: « Quí hóa thay cái lời của em luận đó, ấy rõ ràng là kim thạch chi ngôn, thiệt chị không bì kịp. Nhưng mà, cái hạng người giàu-sang thì dễ có, chớ cái hạng người tài-đức thì rất khó mà kiếm cho được lắm em. » Lệ-Dung nói: « Có chớ, sao không? Rất đổi là thập thấc chi ấp còn tấc hữu trung-tín thay! Huống chi là cả xứ Nam-Kỳ nầy lại chẳng có người tài-đức sao chị; duy có sợ e cho mình phước bạc mà chẳng gặp được đó mà thôi chớ! Nầy chị, nay chị em mình đã thấy rõ lòng dạ nhau rồi, nên em cũng chẳng còn giấu-giếm nhau nữa làm chi; vì thuở em còn bé, cha em có dạy em học phép xem tài-tướng, đến khi em lớn lên rồi, em cũng thường thử cái sở-học của em, quả là tướng-pháp như thần, lũ thí lũ nghiệm, em cũng chẳng nói phách với chị làm chi; thiệt nghề xem tướng của em, mười người không sai một, đa chị à. Từ ngày em mông ơn tri-ngộ của chị đến nay, em hằng cạnh cạnh nơi lòng; nên em đã lấy hết bình-sanh sở học của em ra, ý muốn tìm giùm cho chị môt người chồng cho được phẩm-hạnh đoan trang, cho xứng đáng mà trao thân gởi phận; nay em tìm đã được rồi, song em không biết ý chị thể nào, nên em chưa dám nói cho chị rõ. » Mộ-Trinh nghe nói có ý thẹn thầm, bèn cười lỏn-lẻn mà nói bởn với Lệ-Dung rằng: « Nếu Thuật-sĩ coi tướng thiệt hay, thì ngày sau tôi sẽ thưởng; song chưa biết người ấy là người thế nào, ở gần hay xa, Thuật-sĩ có cho tôi biết được hay chăng? » Lệ-Dung cũng mĩn cười mà ngâm rằng: « Nguyên người quanh-quất đâu xa, Khắc-Xương họ Đổ vốn nhà thơ-hương. »
Mộ-Trinh nghe nói dứt lời mặt có sắc buồn, bèn nói rằng: « Tưởng là ai kìa, chớ như người ấy, chị vẫn có nghe danh đã lâu, thiệt là con nhà đạo-đức, dòng-dỏi thơ-hương, tài học của chàng cũng chẳng phải tầm thường; nhưng mà. trong mấy năm nay, cha mẹ chàng gia-đạo đã suy vi, lại thêm rủi cho chàng, vì vận chưa đạt mà công-danh lở-dở. Nếu nay mà em muốn cho chị kết tóc với chàng thì chị lại e bất tiện lắm em. » Lệ-Dung nghe Mộ-Trinh nói vừa dứt lời, liền nghiêm nét mặt mà nói rằng: « Ủa! chị là người học-thức, mà cũng chưa thoát khỏi cái tình-đời nữa sao? Em dám đoan với chị, nếu người ấy mà nghèo hoài, thì em quyết khoét cặp con mắt mà quăng, chớ chẳng thèm coi tướng nữa đa chị à! » Mộ-Trinh lắc đầu mà đáp lại một cách rất buồn rằng: « Đã đãi nhau là tình tri-kỷ, ý khí tương đầu, mà em cũng còn tưởng cho chị là kẻ tham phú phụ bần nữa sao em? Vậy chớ cái lời của chị mới nói với em khi nảy đó, em đã quên rồi hay sao?? Vì trong hàng cô bác của chị thì có nhiều người tánh hay trọng phú khinh bần, lại hay nói ra nói vào với cha mẹ chị; nên hễ họ biết chàng nghèo, thì chi cho khỏi họ kiếm đều gàn trở cha chị mãi đi rồi thì có phải là bất tiện chăng em? Huống chi chị là phận làm con, dầu khi lá thấm chỉ hồng, nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha. Vã lại mình cũng chưa rõ được nông-nỗi bên nhà ấy là thể nào, chẳng qua là mình mới tính phỏng với nhau đây mà nghe vậy thôi; chớ em lấy chi mà làm chắc? Thoản như mình thì hữu ý, mà người ta lại vô tâm, chừng ấy em mới tính sao? » Lệ-Dung lại mĩn cười mà đáp rằng: « Việc ấy có khó chi, nếu quả chị mà trọng vì tài đức, chớ chẳng luận sự giàu nghèo, thì em cũng có thể điều đình cho an thỏa được; em chỉ e là e cho chị chí chẳng được bền đó mà thôi, chớ nếu cái chí đã quả quyết, đã bền chặc rồi; thì dầu sanh tử ai mà đoạt được. » Mộ-Trinh tuy cũng cho lời luận của Lệ-Dung rằng phải, song nàng là con chi hiếu, không biết về sau cha mình có chìu theo ý mình chăng; cho nên nàng hằng ngại ngại trong lòng, không biết cái việc tương lai của mình sau nầy may rủi thể nào, nên cũng nhắm mắt đưa chơn tới đâu hay đó.
Một buổi sớm mai kia, chiếc đò ngang đưa bộ-hành nơi sông Mỷ, chở hành-khách khẩm mèm, lại nhằm lúc nước rông chảy mạnh; đò vừa qua được nửa sông, thình lình đâu lại có một tốp ghe-chài chở nặng, ở ngoài đại-giang thả thẳng vô vàm, gần đụng chiếc đò; lúc bất cập, tên chèo đò lính-quýnh, để cho chiếc đò nằm cảng ngang trước mũi ghe chài, nên phải nghiêng úp. Đò chìm rồi, bao nhiêu hành-khách kẻ la người khóc, hụp hưởi dưới sông. Trên ghe chài ai nấy hoảng kinh, liền la ó om sòm, lớp thì chèo, lớp thì sào, ném đại xuống sông cho mấy người ấy đeo, rồi mới thả tam bản xuống bơi theo mà vớt. Trên bờ thiên-hạ cũng lao-xao, hối thúc nhau bơi xuồng ra tiếp cứu.
Đương lúc rộn-ràng như vậy, hai bên bờ sông ai nấy cũng đều cứ châm chỉ ngó ngay theo lối chỗ đò chìm. Không dè cách đó độ chừng một trăm ngoài thước, lại thấy một người còn ló có hai bàn tay, chới với giữa dòng, hụp lên hụp xuống. Thoạt đâu trong bờ lại có một người trai-tơ, ôm một tấm ván lội ra, vừa tới nơi thì hai bàn tay ấy đà hụp mất. Người trai ấy thất kinh, liền buôn tấm ván lặn nhầu theo, may sao vớ được cánh tay, bèn ráng sức kéo nhóng lên cho cái đầu vừa khỏi mặt nước, rồi hụp xuống, hai tay xóc ngang nách người ấy giơ nhóng lên, còn hai chơn chòi đạp, quyết lội vào bờ. Chẳng dè hai tay thì mắc hết, chỉ còn có hai cái chơn thì lội sao cho mạnh được, phần thì nước rông chảy mạnh, thật khó nổi duy trì, trong giây phút người trai-tơ ấy sức cũng đà muốn đuối. May nhờ có xuồng ghe trong bờ bơi ra tiếp cứu; nếu không, thì ắt cả hai đều hồn nương vầng mây bạc, xát theo ngọn thủy-triều rồi. Nguy hiểm thay!
Khi đem vô tới bực rồi, ai nấy xúm lại coi, mới biết là một nàng con-gái, tuy còn hơi hoi hóp, song đã bất tỉnh nhơn sự rồi. Người trai ấy cũng phải ra sức bồng thẳng lên bờ, những kẻ hảo tâm thấy vậy, liền lấy chiếu trải ra, để nàng nằm êm, lấy rượu cỏ-nhác mà đổ cho nàng, rồi lại rủ nhau vầy lửa xúm hơ, trong giây phút thì nàng ấy mới lần lần tỉnh lại.
Còn đàng kia, chiếc tam-bản đã vớt được mấy người hành-khách mà chở vào bờ rồi, trong đó lại có một cô con-gái mặt mày dớn-dác, dường như tìm kiếm vật chi, xem trước ngó sau một hồi rồi vùng khóc rống lên và nói rằng: « Trời đất ôi! Còn chị tôi đâu không thấy? Hay là chị tôi đã chìm mất đi rồi! Mấy chú ôi! Xin mấy chú làm phước lặn mò kiếm vớt giùm chị tôi với mấy chú ôi!! » Ai nấy nghe nói hổi ôi, còn đang bối rối, chưa biết tính lẽ nào, bổng nghe mấy người trên bờ kêu cô gái ấy mà nói rằng: « Kia cà! Phía đàng kia người ta cũng vớt được một người con-gái kia cà!! Cô hãy lại đó nhìn coi, có phải chị cô hay chăng? » Nàng ấy nghe nói nửa mừng nửa nghi, liền vội vả chạy lại, vừa thấy mặt mày, hai người liền ôm nhau, khóc lở khóc, cười lở cười, ấm ức nghẹn ngào nói không ra tiếng.
Té ra người rủi-ro ấy tuy là tóc-tai xụ-xợp, quần áo ướt dầm, mặt mủi tái xanh, tay chơn rung rẩy mặc dầu, song nhìn rõ lại thì chẳng phải ai đâu lạ; thật rõ ràng là một cô thiếu-nữ cực kỳ xinh đẹp, cực kỳ thông minh, đứng chánh vai tuồng trong bộ sách nầy, tên cô là Từ-mộ-Trinh đây. Còn cô con-gái khóc vang khi nãy đó, chẳng cần nói mà khán-quan cũng biết là nàng Trần-lệ-Dung, chớ không ai vô đó.
(Nguyên vì ngày ấy nơi nhà quan phủ gần ngày kỵ cơm, nên bà Phủ mới sai hai chị em cô đi chợ mua đồ, không dè lại bị sự rủi ro như vậy.
Còn người trai-tơ mà liều mình lội ra cứu được Mộ-Trinh đó là Đổ-khắc-Xương, vì ngày ấy chàng-ta cũng đến tĩnh-thành đặng có mua cò mà gởi thơ ra Bắc; ai ngờ lại gặp dịp mà cứu nàng; ấy chẳng phải là việc tình cờ, tưởng khi hai đàng cũng có tiền-duyên túc-trái chi đây, nên mới khiến cho gặp gở nhau trong cơn nguy-hiểm như vầy mà gây cái mối nhơn-duyên về sau không tránh đâu cho khỏi. Thật rõ ràng là cái ý khéo của Thiên-công, mà hẳn thật hai đàng cũng vương vấn mối tơ tình từ đó.)
Đây nhắc lại việc Mộ-Trinh và Lệ-Dung khi thấy nhau còn sống thì mừng rở chẳng cùng, tiếng khóc pha lẩn với tiếng cười, không nói chi được hết. Rồi lại nhớ tới người cứu mình khi nảy bèn day lại mà tạ ơn; chừng đó mới biết là Đổ-khắc-Xương, liền quì sụp xuống nơi trước mặt chàng và lạy và nói rằng: « Lúc em đương chới với giữa dòng, may nhờ có thầy là người nghĩa-dỏng, dám mạo hiểm mà cứu được em; may đó, chớ không thì thầy cũng đã vì em mà chết đuối rồi; thật cái ơn tái-sanh nầy sánh tày trời đất, em phải khắc cốt minh tâm, quyết kết cỏ ngặm vòng, chờ ngày đền đáp. » Đổ-khắc-Xương nghe giọng nói rất thanh thao, lại thêm lễ nghĩa đủ đều thì lấy làm lạ, bèn day lại mà nhìn, chừng ấy mới biết là nàng Từ-mộ-Trinh con gái của quan phủ đương ngồi Chủ-quận tại quận của mình, liền vội vàng đáp lễ lại và nói rằng: « Phàm hễ thấy nạn thì cứu, thấy nghĩa thì làm, ấy là phận làm trai, phải làm cho tròn cái nghĩa-vụ đó mà thôi, chớ có công ơn gì cho trọng lắm đâu, xin cô mựa chớ để lòng mà lao phiền quí-thể; thôi, hai cô hãy đi kiếm nhà quen mà đổi thay y phục, chớ có để mang đồ ướt trong mình, sợ e cảm nhiểm phong-hàng mà sanh bịnh hoạn không nên đa hai cô; còn phận tôi đây, tôi cũng phải đi thay đồ mới được. » Nói dứt lời liền từ biệt hai nàng rồi quày quả đi liền. Mộ-Trinh thấy vậy thì biết là người nghĩa-sĩ, nên cứ ngó mông theo hoài, trong lòng ngùi ngùi, quyết tính thế nào mà đền đáp ơn chàng cho được mới an. Lệ-Dung biết ý Mộ-Trinh, bèn bảo rằng: « Thôi chị, bây giờ mình phải trở về thưa lại cho ông bà hay và lo thuốc thang bổ dưỡng ít ngày cho tinh-thần bình phục lại đã, rồi sẽ xin ông bà mời chàng đến nhà mà đền ơn đáp nghĩa mới xong. » Mộ-Trinh gặt đầu và nói rằng: « Em tính vậy cũng phải, mà ngặt bây giờ đây tay chơn của chị vẩn còn bải hoải, đi đứng chẳng yên, vậy thì để chị ngồi đây nghỉ ngơi giây lát, em phải đi kêu một cái xe, mướn nó đưa chị em mình về nhà mới được. » Lệ-Dung vâng lời liền vội vả chạy đi kêu xe; trong giây phút thì nàng đã đem lại một cái xe hai bánh, rồi bước xuống đỡ Mộ-Trinh lên xe, hối kẻ đánh xe chạy thẳng về dinh quan phủ.
Khi về đến nhà, vợ chồng quan phủ xem thấy cả hai áo quần ướt hết, không hiểu duyên cớ làm sao, liền gạn hỏi căng do, mà nhứt là bà phủ lại càng nóng nảy lăn xăn hơn nữa. Còn nàng Từ-mộ-Trinh khi mới bước chơn vào nhà vừa thấy mặt mẹ cha, trong lòng nửa mừng nửa tủi, giọt lụy chứa chan, ấm ức nghẹn ngào, nói không ra tiếng. Lệ-Dung bèn thế cho Mộ-Trinh, đem hết đầu đuôi các việc thuật lại một hồi. Quan phủ nghe nói giựt mình, bà phủ cũng hết hồn hết vía; bà liền vói kéo nàng lại cho gần bà và vò lia vuốt lịa, than thở chẳng cùng, rồi lại hối hết cả hai dắc nhau vào phòng mà thay quần đổi áo. Liền đó bà lại sai người đi rước thầy về săn sóc thuốc thang, trong ít ngày, cả hai chị em, tinh-thần đà bình phục.
Ngày kia trong nhà nhằm lúc rảnh rang, Mộ-Trinh bèn thừa dịp thưa với cha mẹ, xin mời Đổ-khắc-Xương đến nhà mà đền ơn đáp nghĩa cho chàng. Bà phủ cũng nói với quan phủ rằng: « Con nó nói như vậy cũng phải đa ông, người ta đã cứu con mình, không lẽ mà mình làm thinh sao phải, vậy thì ông hãy sai đứa nào đi mời Đổ-khắc-Xương qua đây mà đền ơn cho... » Bà nói chưa kịp dứt lời, quan phủ liền xì miệng một cái rất mạnh mà nói rằng: « Síc! Dữ không!! Thứ nó là một tên dân nghèo ở trong quận của mình, trọng vọng gì lắm đó hay sao mà phải mời phải rước; nếu nó có công cứu được con mình, thì sai đứa nào đó, cầm năm ba đồng bạc đem qua mà cho nó phứt cho rồi, lại còn bày đặt thỉnh thỉnh mời mời cho rộn. » Bà nghe ông nói như vậy thì bất bình, bèn phản đối lại rằng: « Sao ông hay ỷ quyền mình quá, đã biết nó là dân ở trong quận của mình thì mặc dầu; nhưng mà con mình bị nạn, nó cứu tử huờn sanh, thì tức nhiên nó là người ơn của mình, phải lấy lễ mà đải nó mới phải, chớ ông cứ ỷ quyền mình mà nói ngang như vậy, tôi e cho thức-giả người ta chê cười chăng ông? » Quan phủ nổi nóng nạt lớn lên rằng: « Hứ! ai cười? Mụ khéo nói xúc tâm tôi cho sanh chuyện, đều nói thì nói mà nghe, chớ mụ phải biết tôi đây là quan phụ mẩu, nó là một đứa dân quèn ở trong quận của tôi; ấy là cái phận-sự buộc nó phải làm, chớ có ơn chi mà kể. » Bà phủ vẩn biết ý chồng, nên phải làm thinh, không thèm cải nữa; còn Từ-mộ-Trinh thấy cha mình như vậy cũng chẳng dám nói chi, liền bước rảo vô buồng, nhìn sửng Lệ-Dung mà rưng rưng nước mắt.
Rồi đó quan phủ liền lấy ra 5 đồng bạc giao cho một tên lính và dặn rằng: « Mi hãy đem 5 đồng bạc nầy qua nhà Đổ-khắc-Xương mà trao cho nó và nói với nó cho rõ rằng: vì nó có công vớt giùm con gái của ông lúc chìm đò hôm nọ, nên nay ông thưởng cho nó một số tiền nầy để uống rượu chơi vậy. » Tên lính vâng lời đi trọn một buổi rồi đem 5 đồng bạc trở về trả lại cho quan phủ và bẩm rằng: « Tôi vâng lịnh ông đem bạc qua cho Đổ-khắc-Xương và tôi cũng nói với chàng y như lời của ông dạy vậy; chàng không chịu lấy bạc, lại chúm chím miệng cười và nói rằng: việc chút đỉnh chẳng có đáng gì, cần chi mà ông phải nhọc lòng nghĩ tới, vã lại cái việc của chàng làm đó là làm cho xong cái phận-sự làm người, chớ chàng chẳng có tính việc đó là ơn nghĩa với ai; huống chi ông là cha mẹ của dân, thì có lý nào mà chàng lại ăn tiền ăn bạc của ông, nên chàng xin kính lại cho ông, chớ chàng không dám thọ. » Quan phủ nghe nói lấy làm tự đắc, bèn gặt đầu và nói rằng: « À! Vậy chớ sao? Thằng biết đều quá. » Rồi day lại mà nói với bà phủ rằng: « Đó! mụ thấy không? ở trong quận của mình, mà mình là quan phụ mẩu, mình có ăn tiền của ai được thì ăn, chớ ai mà lại dám ăn tiền của mình sao mụ? » Bà phủ nghe vậy làm thinh, trong lòng tuy cũng bất bình mà không dám nói.
Bữa nọ tới kỳ hầu lệ, quan phủ phải đi lên trên tĩnh một ngày. Bà phủ ở nhà bèn kêu Mộ-Trinh mà nói rằng: « Nầy con, cái việc chàng Đổ-khắc-Xương cứu con hôm nọ, thật là ân nghĩa rất nặng dày, mà cha con coi chẳng ra chi, lại cứ ỷ quyền mình, muốn làm chi tự ý, thật má e chẳng khỏi bị thức-giả người ta chê cười lắm con. Vậy sẵn nay cha con đi vắn, má muốn lén cha con, mời chàng qua đây đặng mà đền ơn đáp nghĩa cho chàng kẻo e thiên hạ họ chê rằng mình là kẻ vô ơn bạc nghĩa; ý con nghĩ sao? » Mộ-Trinh nói: « Má tính vậy thì phải lắm, nhưng mà, nếu mà sai lính đi mời, con e cha con hay đặng thì ắt khó lòng; chi bằng má giả ý thèm cam hay quít chi đó, mà sai Lệ-Dung đi mua, rồi nó dùng dịp ấy mà mời chàng thì chẳng ai biết được; khi cha con về có hay mà hỏi chàng đến việc chi, thì má cứ nói rằng chàng qua mà đáp lễ cái ngày cha sai lính đi cho chàng tiền hôm nọ. » Bà phủ nghe nói rất mừng, liền bước vô buồng dặn nhỏ Lệ-Dung, rồi lại trở ra ngoài, kêu Lệ-Dung mà nói lớn rằng: « Lệ-Dung, bữa nay sao bà thèm cam mật quá con, vậy con biểu chị hai con nó đưa tiền cho, rồi con đi kiếm mua về cho bà vài chục trái, mà phải coi lựa thứ cam nào cho ngọt nó nghe con. » Lệ-Dung dạ dạ vâng lời, liền thay đổi áo quần rồi lấy dù ra đi.
Đây nhắc lại Đổ-khắc-Xương, từ ngày thấy mặt Mộ-Trinh lòng những ngẩn ngơ, ngày hằng mơ tưởng; song biết nàng là con gái nhà quan, giá cao khó vói, vã lại chàng-ta vẩn biết tánh quan phủ nầy là người trọng phú khinh bần, cho nên dầu có ao ước thế nào củng không sao cho phĩ nguyện được; nghĩ tới nó càng thêm bải hoãi tâm-thần, lấy làm thất vọng. Còn đang nghĩ vẩn nghĩ vơ, bổng thấy một nàng con gái, dung nhan đẹp đẻ, ngoài ngỏ bước vào, trong lòng hồi hộp không rõ là ai, chừng nàng ấy vào gần nhìn rõ lại mới biết là Trần-lệ-Dung người ở bên dinh quan phủ. Liền đứng dậy chào hỏi tử tế, và mời ngồi nơi bộ ván rồi hỏi luôn rằng: « Từ hôm đó tới nay, cô hai về nhà mạnh giỏi thể nào, có hề chi chăng cô?
— Dạ thưa không hề chi, nhờ có ông bà tôi rước thầy hốt thuốc, chị tôi uống đâu cũng chừng năm ba thang chi đó thì tinh-thần đã bình phục, đến nay chị tôi vẩn mạnh giỏi như thường; nhưng mà chị tôi thường than thở với bà tôi mà nhắc nhở cái ơn của thầy hoài; hôm nay ông tôi mắc đi hầu lệ, nên bà tôi sai tôi qua đây mà mời thầy, xin thầy chịu khó dời gót qua dinh cho bà tôi nói chuyện. »
Đổ-khắc-Xương nghe nói dứt lời bèn suy nghĩ trong lòng rằng: « Lạ nầy! hôm nọ bỡi quan phủ vẩn thấy ta nghèo mà rẻ rúng ta, ỷ của ỷ quyền, sai lính đem bạc mà cho ta; nên ta cũng làm cho người biết đứa sĩ khó nầy là kẻ thanh-bần, nhà tuy nghèo mà không hay tham chạ, trả bạc lại cho người. Hôm nay bà phủ lại dùng dịp ông mắc đi hầu lệ mà cho mời ta; trong thế đây chắc hai ông bà khác hẳn ý nhau, nên bà mời ta trong lúc ông đi khỏi, lẽ thì ta chẳng đi làm chi; ngặt vì, bấy lâu ta luốn những ước mơ, nếu sẵn có cái cơ-hội như vầy mà ta lại chẳng đi, thì từ đây chim Việt ngừa Hồ đôi đàng cách trở, biết bao giờ cho ta được gần gủi cái phương-dung của nàng lại nữa; thôi, ta cũng nên dùng cái dịp tốt nầy qua đó một phen coi thử ra sao? » Suy nghĩ một hồi rồi ngước mặt lên mà nói với Lệ-Dung rằng: « Xin cô về trước, để tôi vào thưa lại cho mẹ tôi hay, rồi tôi sẽ qua sau.
— Dạ, xin thầy hãy nhớ, mựa chớ diên trì mà bà tôi trông lắm nhẻ!
— Tôi đâu dám, hễ đã hứa chịu đi thì tôi phải đi liền, lẽ đâu lại thất tín. »
Lệ-Dung bèn từ giả ra về, dọc đàng nàng cũng kiếm mua vài chục trái cam đam về, y như lời bà phủ dặn vậy. Lệ-Dung về chẳng bao lâu, trong giây phút Đổ-khắc-Xương cũng vừa đến. Bà phủ mừng rở chào hỏi lăn-xăn, lại hối trẻ pha trà rồi ân cần mời đải. Đổ-khắc-Xương và uống trà và nói rằng: « Hôm nay cháu lấy làm vinh-hạnh mà được lịnh của bà kêu gọi đến đây; chẳng biết bà có đều chi dạy bảo?
— Xin thầy thong thả, cứ uống nước ăn trầu, thỉnh-thoản rồi tôi sẽ tỏ cùng thầy một chuyện. »
Bà phủ và nói và day mặt vào trong mà kêu rằng: « Hai e! Có ân-huynh của con là thầy Đổ đã qua đây nầy! con hãy ra mà tạ ơn thầy đi con. »
Bà nói vừa dứt lời, bổng thấy trong buồng Lệ-Dung bước ra đi trước, có bưng một mâm quả-phẩm lễ-vật đem để trên bàn; còn Mộ-Trinh cũng nối gót theo sau, bước đến trước mặt Đổ-khắc-Xương, rồi chấp tay chào hỏi, giọng nói rất ngọt-ngào. Đổ-khắc-Xương cũng đứng dậy vội-vàng đáp lễ. Lúc bấy giờ, hai đàng gặp nhau, diện đối diện, hai miệng tuy chào hỏi lăng-xăng, mà bốn mắt cứ liếc nhau chằn-chằn; thật là một đàng rất phải mặt áo-khăn, còn một đàng lại nên trang đài-các. Cả hai trong lòng còn đương bát-ngát, chưa kịp nói chi; bổng nghe bà phủ nói rằng: « Thật tôi chẳng nói giấu chi thầy, hôm nọ con nhỏ của tôi nó đi chợ rủi bị chìm đò, may có thầy ra ơn cứu vớt, nếu không thì hổm nay nó đà xanh cỏ đi rồi; ngặt ông phủ nhà tôi ổng có cái tánh rất kỳ khôi, từ hôm ổng sai lính đem bạc cho thầy tới nay, thật tôi lấy làm ngại quá, sợ e thầy không rõ mà phiền; nên nay tôi phải mời thầy qua đây, tạm dùng chút đỉnh những lễ mọn nầy, trước là tôi chịu lỗi cùng thầy, sau là cho con nhỏ của tôi nó lạy thầy một đôi lạy mà đền ơn tái-tạo. » Nói dứt lời liền bảo Mộ-Trinh cúi lạy. Mộ-Trinh chưa kịp quì lạy mà Đổ-khắc-Xương đã vội-vàng đứng dậy bước tránh ra chỗ khác và nói lia-lịa rằng: « Đừng cô Hai, thôi, thôi, đừng, đừng có lạy cô Hai. » Rồi day lại xá bà phủ mà nói tiếp luôn rằng: « Dạ, bẩm bà, vã ông với bà là cha mẹ của dân, còn cháu đây là kẻ bất tài, lại là con dân trong quận; dầu cho việc gì lớn-lao đi nữa cháu cũng chẳng dám tiếc công thay, huống chi là việc tầm thường chút đỉnh, cháu đâu dám kể ơn mà thọ lãnh những hậu lễ của bà; miễn xin bà thương xót đến phận hèn nầy là đủ. » Bà phủ nói: « Ấy chẳng qua là thầy dùng lời quá khiêm đó mà thôi, chớ cái ơn tái-sanh nầy còn có chi bằng. » Đổ-khắc-Xương cũng cứ từ chối hoài, chớ chẳng hề chịu lãnh lễ-vật bạc-tiền chi hết. Bà phủ trong lòng khen thầm, nhơn hỏi thăm qua việc gia-tình, lại hỏi đến việc lứa đôi, hoặc đã có nơi nào hay chưa có. Đổ-khắc-Xương cũng thưa thiệt rằng: « Trong ba bốn năm trời, gia-đạo của cháu rất suy vi, phần thì cha cháu mắc đi ra Bắc, nay nhà cháu chỉ còn có một bà-thân cháu với cháu, mẹ con hủ-hỉ hôm sớm với nhau; hềm vì thiếu trước hụt sau, cho nên bề gia-thất cháu chưa nghĩ tới. » Bà phủ nghe nói ngùi-ngùi, lấy làm thương xót. Còn Mộ-Trinh thì trong lòng khấp-khởi mừng thầm. Còn đang chuyện vãn, ngoài sân bóng đã hầu trưa, Đổ-khắc-Xương liền đứng dậy cáo từ mà lui gót.
Khi Đổ-khắc-Xương đã về rồi, mà bà phủ vẫn còn trầm-trồ khen mãi, bà lại nói với Mộ-Trinh rằng: « Nầy con, má thấy Đổ-khắc-Xương thiệt má thương nó quá; thằng sao tuổi tuy còn nhỏ mà phẩm hạnh đoan trang, cử chỉ đàng hoàng, nói năng nho nhã, ngặt vì nhà nó thì nghèo, mà tánh cha con thì khó quá, chớ phải tánh cha con mà cũng được như tánh má đây vậy, chẳng cần sự giàu nghèo, miễn là tài đức cho vẹn toàn là đủ; thì má gả con cho nó để hầu sửa trắp nưng khăn, cho tròn ơn tròn nghĩa. » Mộ-Trinh nghe bà nói bấy nhiêu lời, dường như đánh trúng tim đen, nên nàng cũng muốn tỏ thiệt ý mình cho bà nghe, ngặt cái nghề con-gái mới lớn lên, hễ nói tới việc vợ chồng thì hay mắc-cỡ miệng, cho nên nàng dợm đã đôi ba phen, vừa muốn mở miệng ra, rồi nàng lại nín. Bà phủ thấy vậy đã biết ý con, bèn hỏi gạy đầu rằng: « Theo ý má thì như vậy, ý con nghĩ sao? » Mộ-Trinh ban đầu còn hơi xẻn-lẻn, hồi lâu nàng mới thưa rằng: « Nếu má quả có lòng thương chàng như vậy, thì con mới dám tỏ thiệt cái tâm-chí của con cho má nghe. Vã con có nghe danh Đổ-khắc-Xương rằng ở với mẹ cha rất nên chí-hiếu, ở với cô bác xóm-diềng lại có lễ nghĩa khiêm cung, nho-học cũng thông, tây-học cũng giỏi; giàu sang không bợ-đỡ, nghèo khó chẳng khinh-khi, thật là hiếu nghĩa vẹn hai, đức tài gồm đủ; nếu nay mà má muốn chọn được rể hiền, thì như chàng vậy con mới đành trao thân gởi phận. Huống chi cổ-ngữ có câu rằng: Nam nữ thọ thọ bất thân. Mà lúc con bị chìm đò chới-với giữa dòng, chàng ra ơn cứu vớt, bồng ẵm con mà đem được lên bờ; đã biết rằng vì gặp cơn nguy cấp thế ắt phải tùng quyền, song xét cho kỉ lại thì dường như con đã thất thân nơi chàng rồi, nếu ngày sau mà con chẳng được kết đôi bạn với chàng, thì thà là con ở vậy trọn đời, chớ con chẳng hề chịu mang danh thất tiết đâu. » Bà phủ nghe lời con nói phải, thì bà cũng khen thầm, song bà vẫn biết ý chồng, cho nên bà tỏ ý lo buồn và nói rằng: « Con nghĩ như vậy thật cũng phải lắm đó con; ngặt vì tánh-tình cha con thì khác, má không biết tính lẽ nào để thỉnh-thoản má dọ thử ý cha con coi thể nào cho biết. » Mộ-Trinh nghe nói cũng làm thinh, bèn trở vô buồng chuyện vãn với Lệ-Dung cho tiêu-khiển.
Chẳng dè lúc hai mẹ con đương nói chuyện với nhau, thì Lệ-Dung đã đứng núp dựa cữa buồng rình nghe rõ hết; nên khi Mộ-Trinh bước vào thì Lệ-Dung liền ngó mặt mà cười và nói rằng: « Ấy rõ ràng là Thiên tùng nhơn nguyện đó, nên mới khiến cho bà cũng đem dạ thương chàng, nếu vậy thì cái cuộc nhơn-duyên của chị sau nầy thiệt đã có ảnh-hướng rồi đó đa chị à. » Mộ-Trinh nói: « Ủa! Té ra những lời của má chị nói chuyện với chị nãy giờ đó, em đã rõ hết rồi sao? Thật khó quá đi em. Ý của má chị thì vậy, còn ý của cha chị thì khác hẳn đi thôi; không biết sau nầy mà chị có được mãn nguyện cùng chăng? Vã hôm nay chị đã xem thấy rõ ràng, như chàng vậy thiệt là người hào-hoa phong-nhã, tài-mạo lưỡng toàn; theo như lời em xem tướng mà luận với chị hôm nọ thiệt quả chẳng lầm. Nhưng vậy mà chị còn e nhiều nỗi lắm em.
— Việc gì mà chị lo nhiều lắm vậy?
— Không lo sao được. Nầy em! Một là chị e cho cha chị chê chàng nghèo mà không chịu gả; hai là chị lại e cho bên kia, không biết chàng có ý gì mà nghĩ đến chị hay chăng? Nếu chàng mà quả vô tình, còn mình đây, không lẽ mà mình tự đi làm mai-mối cho mình; thế ra, dầu chị em mình có tính gì cho lắm đi nữa cũng là vô ích.
— Việc đó em đã liệu rồi.
— Em liệu sao?
— Nếu muốn cho rõ được ý chàng, thì chị phải mua một hộp khăn mu-soa (khăn hỉ-mũi) cho thiệt tốt, rồi chị em mình phải chịu khó ít đêm mà thêu trong mỗi cái khăn một cặp chim oan-ương cho khéo, rồi đem mà cho chàng, mượn cớ rằng nhờ ơn cứu tử, nên phải tạm chút vật hèn để làm kỷ-niệm; vã lại hổm rày nào là bạc tiền, nào là lễ vật, ấy là mình toan ơn trả nghĩa đền, mà chàng đã nhứt-nhứt không dùng, thì cũng đã đành; chớ như nay mà mình tặng có 3 cái khăn nầy, không lẽ mà chàng đi nỡ đành lòng từ nữa; mà hễ chàng chịu lãnh mấy cái khăn nầy rồi thì việc ra thể nào, chị em ta ắt sẽ rõ được ý chàng, chớ không khó. » Mộ-Trinh nghe Lệ-Dung nói dứt lời thì mĩn cười mà nói rằng: « Tuổi em còn nhỏ mà kiến-thức rất cao, thiệt chị không bì kịp. » Nói rồi liền lấy tiền trao cho Lệ-Dung, bảo nàng ra chợ mua một hộp khăn và các thứ chỉ màu đem về mỗi đêm hai chị em thức thêu với nhau. Khi thêu rồi bèn đem cất để vào rương, chờ có dịp sẽ gởi cho Đổ-khắc-Xương mà dọ ý chàng-ta cho biết.
Ngày kia quan phủ lại tiếp được giấy của quan Tòa, phú cho ông tra xét một vụ kiện tranh điền thổ thuộc về trong quận của ông, nên ông phải dạy lính sắm sửa ghe hầu cho ông đi làm ăn-kết (enquête). Ở nhà hai chị em bàn tính với nhau, muốn dùng dịp ấy đặng đem hộp khăn qua mà cho chàng Đổ. Bàn tính xong rồi, Mộ-Trinh liền giã ý nhức đầu, sai Lệ-Dung đi kiếm lá xông, rồi thừa dịp đi luôn qua nhà chàng Đổ.
Nhằm lúc Đổ-khắc-Xương đương ngồi trong nhà mà xem nhựt-báo, bỗng nghe chó sủa om-sòm, bèn ngước mặt ngó ra, thấy Lệ-Dung nét mặt tươi cười, ngoài sân xâm-xuối bước vào. Chàng ta liền buông tờ nhựt-báo, đứng dậy chào mừng và hỏi rằng: « Hôm nay cô lại đến đây, hoặc cô đi chơi, hay là bà lại cho kêu tôi mà dạy bảo đều chi nữa chăng? » Lệ-Dung nói: « Dạ, thưa không phải bà tôi sai biểu; tôi qua đây là bỡi vâng lời chị hai tôi mà.. .. » Đổ-khắc-Xương nghe nói tới đó trong lòng khắp-khởi mừng thầm, liền vội-vàng rước hỏi nàng rằng: « Ủa! Nói vậy, té ra cô hai sai cô qua đây, mà có việc chi chăng cô? » Lệ-Dung chúm-chím miệng cười và đáp rằng: « Thưa có việc cần, nên em mới qua đây. » Và nói và mở hộp khăn ra, đem để trên bàn ngay trước mặt chàng, rồi nói tiếp thêm rằng: « Nhơn vì lúc nọ chị tôi nhờ ơn thầy cứu tử, thiệt cái ơn tái tạo nầy ví như sông biển, đền đáp đã ghe phen mà thầy không chịu lấy, từ ấy nhẫng nay, chị tôi vẩn hằng cạnh-cạnh nơi lòng, không hề quên được; nên nay chị tôi phải thêu một chục khăn nầy, dạy tôi đem qua cho thầy để làm kỷ-niệm, vật hèn chút đỉnh, thiệt chẳng đáng chi; nhưng mà, đó là cái công khó của chị tôi thức-thối mấy đêm, xin thầy chớ phụ. Khi tôi ra đi chị tôi lại đinh-ninh dặn bảo tôi rằng, nếu cái hộp khăn nầy mà nó được ở với thầy, thì dầu cho đến cũ đến rách, nó cũng còn nhờ hạnh-phước đó. » Đổ-khắc-Xương nghe nói mĩn cười và đáp rằng: « Ấy là lời của cô hai quá tặng đó mà thôi, chớ kẻ bất tài nầy là một người đức bạc, có phước chi đâu mà được như lời cô hai dạy vậy. » Và nói và mở hộp khăn xổ ra từ cái mà coi, thấy cái nào cũng có thêu một cặp oan-ương thật khéo, tuy là chim thêu trong vải mà xem ra rất có tinh-thần. Chàng ta vừa xem vừa nghĩ, thì đã hiểu cái thâm-ý của nàng rồi, trong lòng khắp khởi mừng thầm, bèn nói với Lệ-Dung rằng: « Công lao chút đỉnh, tôi đâu dám gọi là ơn, lẽ thì tôi chẳng dám thọ lãnh vật gì, ngặt vì tôi thấy cô hai đã dụng tâm như vầy, nếu tôi từ chối vật nầy thì thành ra tôi là người vô tình vô vị, cho nên tôi phải tạm lãnh của nầy. Vậy xin cô hãy tạm đình gót ngọc mà đợi tôi một vài phút đồng-hồ, để tôi viết một bức thơ mà đáp tạ hậu-tình, nhờ cô đam về trao giùm lại cho cô hai, thì tôi lấy làm may-mắn lắm đó. » Lệ-Dung gặt đầu và xin vâng lời. Đổ-khắc-Xương liền bước lại bàn viết ngồi suy nghĩ một mình rằng: « Nàng Từ-mộ-Trinh mượn cớ tạ ơn, lại thêu trong mỗi cái khăn mỗi cặp oan-ương mà cho ta như vầy đây thì kỳ trung nàng đã hữu tình hữu ý với ta rồi; gia dỉ những lời của Lệ-Dung đã nói khéo với ta nảy giờ đó, nếu gióng lại cho kỷ mà coi thì cũng quả quyết như lời ta liệu vậy, thế ra Từ-mộ-Trinh nầy quả là một người tri-kỷ của ta rồi, chớ chăng còn nghi ngờ chi nữa. Vậy thì bây giờ đây ta phải dụng ý cách nào mà hồi đáp với nàng, đặng làm cho nàng rõ được ý ta rằng cũng đồng tâm đồng chí với nàng vậy. » Suy nghĩ hồi lâu, vùng nhớ lại mấy cây quạt rất tốt của cha chàng mua ở Bắc-kỳ đã gởi về cho chàng mới hôm tuần trước. Chàng liền lựa lấy một cây thiệt tốt, rồi vẽ vào hai nhánh ngô-đồng, phía trên lại vẽ một cặp chim, tức là con chim loan với con chim phụng, hai con đậu trên hai nhánh ngô-đồng đương đâu mỏ với nhau. Vẽ xong xếp lại, cắt một rẻo vải quyến hình như sợi giải, lại lấy viết đề vào sợi giải một chữ đồng rất to, buộc chặt chung quanh cây quạt, rồi mới lấy giấy gói phong tử tế, đam lại trao cho Lệ-Dung chúm chím miệng cười mà nói rằng: « Gia-đạo bần hàng, thiệt không có vật chi là quí, vậy sẵn có cây quạt Bắc-kỳ, của nghiêm-thân tôi mới gởi về cho tôi đây, nên tôi học họa hồ-lô, bắt chước theo cô hai cũng vẽ một cặp chim, nhờ cô đem về trao giùm lại cho cô hai và thưa với cô hai cho rõ rằng tôi cũng tạm chút vật hèn nầy mà gọi là đáp lễ; nếu cô hai mà chẳng chê của tục vật hèn, thì trọn một đời của kẻ bất-tài nầy lấy làm may-mắn lắm vậy. » Lệ-Dung đứng dậy nét mặt tươi cười, hai tay lãnh lấy gói quạt, giấu để trong mình, rồi mới từ giả Khắc-Xương mà dời gót. Chàng Đổ cũng theo đưa ra tới cữa ngỏ phía ngoài, rồi mới trân trọng vài lời mà trở lại.
Khi Lệ-Dung về rồi, chàng Đổ ngồi lại một mình giở mấy cái khăn ra xem đi xem lại hoài, trong lòng mừng quá đổi mừng, đến khi chàng nhớ lại cái tánh-tình của quan phủ thì chàng lại giựt mình, vì biết cha chàng là người thanh-bạch, hoặc là ông không chịu làm suôi với quan phủ nầy, rồi mình phận làm con; mới biết liệu sao đây. Một mình suy tới nghĩ lui, rồi lại gặt đầu mà nói rằng: « Ờ! Bây giờ ta mới nhớ lại, lúc cha ta còn ở nhà, mỗi khi người nói chuyện với mẹ ta thì người vẩn thường hay nói câu nầy: « Thiệt là kỳ quá đi mụ, quan chủ-quận của mình đây là Từ-thế-Anh, vẫn là một người tánh tình sâu sắc, kiến lợi vong nghĩa, thiệt là một tay tham phú phụ bần; mà sao người lại sanh được một nàng con gái, nết na hiền hiếu, lại thêm ngôn hạnh đoan trang; ấy mới biết, cây đắng lại sanh trái ngọt, thật rõ ràng lời tục ví chẳng lầm. » Lúc ấy mẹ ta lại đáp rằng: « Hay là tại nàng nhờ cái đức của mẹ nàng chăng, vì tôi có nghe bà phủ nầy là người hiền-đức lắm mà! » Cha ta lại gặt đầu mà nói rằng: « Có khi phải đó. » Như thế thì ta ắt cũng còn có chỗ trông mong kết tóc xe tơ với nàng là nhờ có mấy câu chuyện nầy chăng. » Nghĩ như vậy rồi chàng mới bớt lo, bèn an lòng mà chờ dịp.
Đây nhắc lại việc nàng Lệ-Dung, khi ra về cũng giả ý kiếm một bó lá xông đem về giao cho người đờn-bà nấu ăn dưới bếp, dặn nấu để sôi cho được 10 phút đồng-hồ rồi sẽ bưng lên cho cô hai xông. Dặn xong, bèn trở lên nhà trên bước thẳng vào buồng; Mộ-Trinh vừa ngó thấy Lệ-Dung bước vào thì cười và nói bởn rằng: « « Mèn ơi! Tùy-Hà đi Sứ đã về, thiệt tôi không hay mà viểng tiếp chớ! » Lệ-Dung cũng mĩn cười mà đáp lại rằng: « Mà cũng thật là may, nên mới khỏi nhục kỳ quân-mạng đó chị. » Nói rồi hai chị em lại cười xoà với nhau. Rồi đó Lệ-Dung liền lấy cái gói quạt ra trao cho Mộ-Trinh. Mộ-Trinh tiếp lấy, chưa hiểu thể nào, đến lúc mở ra, thấy đủ các món, bèn làm thinh nhắm nhía và suy nghĩ một hồi, rồi ngó Lệ-Dung miệng cười lỏn-lẻng mà nói rằng: « Nầy em! Chị đã hiểu ý chàng Đổ rồi đây em, còn em nghĩ thể nào? » Lệ-Dung nói: « Thì chị cứ giải rõ cho em nghe, thử coi có hiệp ý-kiến với nhau chăng? » Mộ-Trinh bèn chỉ từ món mà nói với Lệ-Dung rằng: « Nầy em! Đây là sợi giãi, mà chàng lại đề một chữ Đồng nơi phía trong lòng, mà lòng tức là chữ Tâm: ấy là giãi-đồng-tâm đó em, chàng lại lấy sợi giãi nầy mà buộc chặt vào cây quạt. Ấy có phải là chàng quyết kết chặt cái giãi-đồng-tâm, chẳng còn nghi ngờ gì nữa. » Lệ-Dung gặt đầu, miệng cười tủm tỉm. Mộ-Trinh lại sè cây quạt ra, chĩ cho Lệ-Dung coi mà nói rằng: « Nầy là hai nhánh Ngô-đồng, cũng hiểu là hai chữ đồng-tâm. Chí như hai con chim loan và chim phụng mà đâu mỏ với nhau đây, là chàng tỏ ý rằng chàng muốn cho loan phụng hòa minh, đôi lứa sum vầy, trăm năm kết cánh đó, có phải vậy chăng em? » Lệ-Dung cười rằng: « Hay! Thiệt quả là hay!! Chị liệu sự như thần, thiệt không sai một mảy. » Mộ-Trinh lại nói với Lệ-Dung rằng: « Việc tuy thì làm vậy, song chị còn e vị tấc mà chàng biết được rằng chị đã hiểu ý chàng hay chưa. Vậy để chị viết thêm một phong thơ cho chàng chắc ý, và xin em hãy chịu khó với chị một phen nữa mới xong. » Nói rồi liền lấy giấy viết thơ, niêm phong tử tế, trao cho Lê-Dung mà dặn rằng: « Nầy em, hãy đi cho mau rồi về cho chóng em nghé! » Lệ-Dung vâng lời lãnh thơ đi liền.
Đây nói về Chàng Đổ, từ khi trao cây quạt cho Lệ-Dung đem về cho Mộ-Trình rồi, trong lòng thồi thộp chưa biết may rũi thể nào, bổng thấy Lệ-Dung ngoài ngõ bước vào miệng cười chúm-chím tay trao bức thơ và nói rằng: « Chị tôi mong ơn thầy gởi cho cây quạt, nên phải tạm kính đôi lời gọi là tỏ ý tạ ơn; vậy xin thầy hãy coi cho kỷ lấy bức thơ nầy thì mới rõ được tất dạ chí-thành của chị tôi vậy. » Đổ-khắc-Xương lòng mừng khắp khởi, vội vàng mở bức thơ liền, té ra chẳng thấy nói một câu gì, duy thấy có một tờ giấy xắp đôi, thoa keo chính giữa cho dính khắn lại, phía trước có đề một chữ Nhứt, mà phía sau cũng là một chữ Nhứt. Chàng-ta ngơ ngẫn, chưa hiểu làm sao, suy nghĩ hồi lâu rồi mới tỉnh ngộ, liền ngó Lệ-Dung mà cười và nói rằng: « Nầy là ý cô hai muốn nói: Khăn khắn một lòng thỉ chung như nhứt đây, có phải vậy chăng! Thiệt cô hai là một người thông-minh tuyệt thế, việc gì cô cũng hiểu rõ ý tôi; thế thì rõ ràng cô là một bạn tri-kỷ của tôi đấy. Vậy xin cô trở về thưa lại với cô hai cho rõ rằng kẻ bất-tài nầy xin lãnh ý của cô hai, dầu đến thác tôi cũng chẳng dám sai dời tất dạ vậy. » Lệ-Dung nghe nói rất khen thầm và kính phục chẳng cùng, rồi đó nàng liền đứng dậy từ giã quày quả ra về; đem hết mấy lời của chàng Đổ mà thuật rõ lại cho Mộ-Trinh nghe. Mộ-Trình thấy vậy lại càng khen phục, bèn dặn dò Lệ-Dung rằng: « Nay tuy là chàng đã rõ tấm lòng của chị, mà chị đây cũng biết được ý chàng rồi thì mặc dầu, song em cũng nên thủ khẩu như bình, chớ chẳng khá hớ hinh mà lậu việc; để thỉnh thoãn cho mẹ chị dọ thử ý cha chị xem coi thể nào rồi sau sẽ tùy cơ ứng biến. » Lệ-Dung nghe nói cũng gặt đầu khen phải.
Từ đó hai chị em ăn ngủ chẳng yên, ngày đêm vẩn cứ lo thầm, sợ e quan phủ chuộng chỗ giàu sang mà ép-uổng.
Ngày kia quan phủ đang ngồi trong dinh bổng thấy tên lính chạy vào bẩm rằng: « Bẩm ông, có ghe quan Đốc-phủ chủ-quận châu-thành đến viếng, ghe mới vừa đậu tại bến cầu. » Quan phủ nghe chưa dứt lời thì đã vội vàng đứng dậy đi liền, xuống đón tại bến cầu mà nghinh tiếp. (Nguyên quan Đốc-phủ-sứ nầy tên là Phạm-nhứt-Thanh, nhờ có quan trên yêu chuộng, cho nên oai thế của ngài ít ai bì kịp; các quan chủ-quận trong tĩnh, ông nào ông nấy cũng khiếp oai, làng tổng dân tình thảy đều sợ ngài cũng như sợ cọp.
Khi quan phủ rước ngài vào dinh rồi liền hối lính hầu khui rượu la-ve ra cho ngài giải khát. Lúc hai đàng đương ngồi uống rượu với nhau, quan phủ bèn hỏi rằng: « Không mấy khi quan-lớn đến đây, làm cho bồng-tấc sanh huy, thiệt tôi lấy làm vinh hạnh chẳng cùng, song chẳng biết có công-sự chi chi, hay là tư sự? » Quan Đốc-phủ mĩn cười và nói rằng: « Không, chẳng có việc chi, chẳng qua là tôi dùng dịp trong hai ngày lễ nghỉ hầu mà đi chơi, nhơn đi ngang qua đây, tiện đường tôi ghé thăm ngài để đàm đạo chơi vậy mà.
— Thiệt tôi rất cám ơn quan-lớn. Trẻ bây! rót rượu thêm cho Quan-lớn đây bây.
— À! tôi có nghe lịnh-ái năm nay cũng đã trộng rồi há! Chẳng hay cháu nó đã được mấy tuổi rồi vậy ngài?
— Dạ. bẩm quan-lớn, năm nay nó mới được 18 tuổi, mà nó còn khờ quá đi quan lớn.
— Hứ! Ấy chẳng qua là ngài quá khiêm đó mà thôi, chớ tôi có nghe người ta đồn đãi ngợi khen nó lắm mà! Được đa, tuổi đó vừa lắm đa. Nầy ngài! Chuyện anh em mình chớ không phải người nào, vậy để tôi xin lỗi với ngài mà nói xắp một cái cho rồi..............
— Dạ, bẩm quan-lớn, có việc chi thì quan-lớn cứ nói, không hề chi, vì tôi là em-út của quan-lớn.
— Nầy ngài! có một chỗ, họ muốn cậy tôi làm mai, đi nói con cháu đây, thằng đó năm nay mới có hai mươi tuổi mà cha mẹ nó giàu quá đi ngài.
— Chẳng hay con ai ở đâu vậy quan-lớn?
— Người đó là anh em chú bác với tôi, tên là Phạm-hữu-Ngọt, nhà cữa ở tại Ba-Xuyên, giàu lớn lắm, mỗi năm thâu lúa ruộng hơn hai trăm ngàn giạ lận đa ngài; nhờ có mấy kỳ quốc-trái ảnh giúp cho nhà nước vay nhiều quá, nên ãnh được thưởng chức huyện hàm.
— Thằng đó có học hành chi chăng quan-lớn? mà nó tên gì?
Quan Đốc-phủ-Sứ ngần ngừ một hồi rồi nói: — Có chớ! mà đều.........
— Mà đều......... mà đều........ sao a quan-lớn?
— Mà đều nó học ít một chút, mắc nó là con câng, vì anh huyện tôi, sanh có một mình nó là trai, cho nên ảnh chỉ hay câng nó quá. Bỡi vậy nó học trường tĩnh gần thi lấy xẹt-típ-phi-ca (certificat) rồi nó thôi, không chịu học nữa, để thả đi chơi hoài, hai vợ chồng anh huyện tôi mới tính kiếm vợ cho nó, đặng có buộc chơn buộc cẳng nó lại đa ngài. Tên nó là Phạm-hữu-Chanh.
— Tuổi còn trai tráng, niên phú lực cường, sao nó không lo học cho tới, để bỏ uổng quá quan-lớn há!
— Ngài nói cũng phải, nhưng mà, Ối! Buổi nầy là buổi huỳnh-kim thế giái, có chi mạnh cho bằng thế-lực kim-tiền đâu ngài. Nó dốt thây kệ nó, miễn là lúa cho đầy bồ, bạc cho đầy tủ thì thôi, một năm hai ba trăm ngàn giạ lúa ruộng chớ ít ỏi gì sao, dầu nó dốt thì dốt, chớ nó có sợ ai. Phải vậy không ngài?
Quan phủ nghe nói ít học thì có hơi buồn, song vì hai trăm ngàn giạ lúa ruộng mỗi năm, nó làm cho ngài cũng phải điếc tai chóa mắt; nhưng mà, ngài vẩn biết ý bà, nên tính để dọ lại coi, chớ chưa dám hứa; bèn nói với quan Đốc-phủ rằng: « Bẫm quan-lớn, đã biết rằng tôi đây là nhứt gia vi trưởng thì mặc dầu, song tôi cũng còn phải hỏi lại mẹ-bầy-trẻ tôi, coi ý bả thể nào, rồi trong vài bữa tôi sẽ cho quan-lớn hay.
— Vậy cũng được, thôi, để tôi kiếu ngài tôi về, rồi bề nào xin ngài cũng cho tôi hay cho sớm sớm vậy nghé, tôi có lòng trông tin ngài lắm đa. Á mà nầy ngài! Ráng lấy nghé! Chỗ đó giàu lớn lắm đa!! Đừng bỏ qua, uổng lắm đa ngài.
Quan phủ theo đưa quan Đốc-phủ xuống ghe rồi mới trở lên, đi thẳng vào nhà tư, kêu bà phủ ra mà nói rằng: « Nầy mụ! Nay có quan Đốc-phủ-sứ Phạm-nhứt-Thanh đến thăm tôi và ngài lại làm mai, muốn nói con gái mình cho thằng cháu của ngài, nó kêu ngài bằng chú, nhà nó ở dưới Ba-Xuyên; cha nó là ông huyện hàm Ngọt, giàu có lớn lắm, ngặt có một đều thằng đó nó ít học một chút, chớ lúa ruộng của cha nó mỗi năm tới hai ba trăm ngàn giạ lận bà. » Bà phủ nghe ông nói dứt lời thì sắc mặt bà không vui, bà bèn trả lời một cách rất lạt lẽo rằng: « Nó giàu thì giàu, chớ tôi không ham, vậy chớ ông không biết ý con-gái của ông hay sao?
— Sao? Mụ nói sao? Ý con gái tôi sao? Nó cải tôi được hay sao???
— Vã con-gái của mình là một đứa biết đều, học hành cũng giỏi, cầm kỳ thi họa chẳng thua ai, nay ông muốn đem nó mà gã cho một đứa ít học, tôi e nó chẳng vừa lòng, vậy chẳng là tội nghiệp cho nó lắm chăng ông?
— Nó ít học mà nó giàu to kia kìa!
— Ai lại chẳng biết nó giàu, tưởng là ai kìa, chớ thằng con trai của ông huyện Ngọt; ông tưởng tôi không biết nó hay sao? Cái thằng làm sao mà chẳng những là dốt nát mà thôi, lại thêm hình dung thô-bỉ, ăn nói cộc-cằng, đen thui đen thít; chắc là cỏn nó có chịu ở đâu.
— Mà người ta nói nó giàu đây nè! lúa ruộng hai trăm ngàn giạ mỗi năm, mụ biết hông?
— Ông cứ chưng cái giàu của nó với tôi hoài, mấy trăm ngàn giạ thì mấy trăm ngàn giạ chớ! Vậy chớ ông không nghe câu tục-diệu người ta hát đó sao?
— Câu tục diêu gì? Họ hát làm sao??
— Câu tục-diêu người ta hát rằng: Chẳng tham bồ lúa anh đầy, tham ba hàng chữ cho tày thế gian. Câu tục-diêu đó, chớ câu tục-diêu gì.
— Hứ! Khéo bày đặt không? Hay chữ cho bằng giữ ăn? Mụ đừng có cải tôi mà! »
Bà phủ thấy ông, ý muốn đổ quạu, bà liền day mặt chỗ khác mà nói một cách rất nhỏ nhẹ rằng: « Ai mà cải ông làm gì, đều tôi nghĩ lại cái công của tôi sanh ra được có một chút gái, mình hạt xương mai, lại thông minh tót chúng, tôi cũng muốn chọn cho được một đứa rể hiền, chẳng luận giàu nghèo, miễn làm sao cho tài đức vẹn toàn, đặng mà gả nó cho xứng đôi vừa lứa thì tôi mới được đẹp mặt nở mày; không dè mà ngày nay, ông ham có hai trăm ngàn giạ lúa ruộng mỗi năm, mà ông muốn vùi dập con gái tôi như vầy, nên tôi mới nói cho ông nghe, chớ tôi có cải ông làm chi; nó là con của ông, ông muốn gả nó cho ai cũng tự ý, duy tôi chỉ xin ông phải nghĩ lại một đều nầy là đều cần nhứt: Phàm hễ vợ chồng mà thương yêu nhau, quyến luyến nhau, là bỡi có cái mối ái-tình, nếu nó không có ái-tình mà mình cứ ỷ quyền cha mẹ ép-uổn nó, thì về sau ắt cũng dở-dang, chớ không có thế nào buộc nó ở đời với nhau cho lâu được; thế thì ép nó mà có ích gì? Tuy nói thì nói vậy, chớ nó là con của ông, ông cứ hỏi lấy nó, chớ tôi đâu dám cải. » Quan phủ liền kêu Mộ-Trinh ra, đặng hỏi ý con cho biết.
Chẳng dè những câu chuyện của hai ông bà tranh cải với nhau nảy giờ, Mộ-Trinh đã núp lén rình nghe, đầu đuôi đà rõ hết, nên nàng ở trong buồng đã khóc lóc với Lệ-Dung rồi. Khi nghe quan phủ kêu tới tên nàng, thì nàng cũng phải ép lòng rén rén bước ra, mặt hoa ủ-dột, lụy ngọc dầm-dề. Quan phủ đương sẵn trớn giận bà, lại thấy tình-hình của nàng như vậy, nên ngài cũng giận luôn, bèn nạt lớn lên rằng: « Chuyện gì mà khóc? Khéo không? Hèn chi người ta hay nói, hễ mẹ nào thì con nấy, thiệt cũng phải lắm chút! Sao? Chỗ giàu sang như vậy mà con còn chê hay sao?? Đó! con nghĩ coi, nhà người ta thì giàu có lung, lại cũng là một ông huyện hàm chớ phải lôi thôi hay sao? Huống chi Bác của nó là quan Đốc-phủ-sứ, vẩn là một người rất có quyền-thế hơn cha, mà nay người lại đứng làm mai cho nó nữa, thì là chỗ giàu sang tột bực, còn ức hiếp nỗi gì? Con hãy nghe lời cha mà ưng phứt cho rồi, đừng có nghịch ý mà làm cho cha thêm giận. » Mộ-Trinh thấy cha đương lúc nóng nãy nên nàng chẳng dám nói chi, cứ đứng khóc hoài. Bà phủ thấy vậy, lại rước mà nói rằng: « Tôi xin ông bớt giận mà để cho tôi phân rõ một đôi đều, phàm hễ vợ chồng mà biết quí trọng nhau, biết yêu thương nhau, là bỡi có cái mối ái-tình cao thượng, có ái-tình rồi mới tương đắt với nhau, chừng ấy chồng lo việc ngoài, vợ lo việc trong, mỗi người đều giữ theo chức-nhiệm của mình, tương y tương ỷ với nhau, thượng hòa hạ mục, phu xướng phụ tùy; không ai khinh thị ai, không ai hiếp chế ai, chung vui chung buồn, đồng tâm hiệp ý; được như vậy, dầu cho làm vợ một tên sĩ nghèo cũng còn có thú vui, chớ như ham mấy chỗ sang giàu, rủi nhằm công-tử Bột, những hạng người ấy, phần đông đều là bọn ỷ của, dâm dật tánh thành, họ coi đờn-bà con-gái cũng như một món đồ chơi, để vuốt ve nựng niệu trửng bỡn cho thỏa lòng; thoản như có đều nào mà không vừa ý họ, thì đã thấy họ ly dị liền, chớ họ có biết chi là đạo tình thâm nghĩa trọng. Còn nói tới việc tình, thì họ lại lấy đều dâm-dục luyến-ái mà gọi là tình, chớ họ có rõ đâu được cái mối tình cho chánh-đáng. Tình mà chánh-đáng ấy, là phát ư lễ, chỉ ư nghĩa, chẳng dâm chẳng loạn, mới gọi là tình; bằng chẳng vậy thì là cầm thú chi tình, chớ ai gọi là tình cao thượng! Chí như ông Ngọt mà được thưởng chức huyện hàm, thì bất quá là nhờ có thế-lực kim-tiền, chớ ổng có công-lao hạn-mã chi đâu, mà cũng chẳng phải là ổng có tài bộ gì, thì cái hàm ấy ai cho là quí. » Quan phủ nghe bà nói tới đó thì lại càng nổi xung, vùng nạt lớn lên rằng: « Mụ đừng có nhiều chuyện, khéo bắt chước ai mà nói cái giọng cầu cao; nếu mẹ con mụ mà cải lời tôi, thì đừng trách số. » Quan phủ miệng thì la ó, mà mặt thì cứ hầm hầm. Mộ-Trinh thấy cha tánh tình nóng nãy, lại thêm đương lúc giận-duổi mà nổi trận lôi đình, nên nàng cứ làm thinh, chỉ có khóc ròng, mà bà phủ cũng nín luôn, chẳng dám nói rằng chi nữa hết.
Cách chẳng bao lâu, ông lại tiếp được thơ của quan Đốc-phủ Phạm-nhứt-Thanh gởi đến cho ông mà cần thúc hỏi thăm việc ấy. Việc cấp bức như vậy, ông chẳng biết tính sao, nếu gởi thơ trả lời mà hẹn nữa, thì lại sợ mít lòng quan Đốc-phủ, nên ông tính hồi âm mà chịu bốc cho êm; rồi lần lần sẽ dụng lời ngon ngọt dỗ dành, không lẽ mà con mình nó dám cải. Nghĩ như vậy rồi ông liền viết thơ hồi âm cho quan Đốc-phủ mà hứa chịu gả con gái của ông cho con trai ông huyện Ngọt.
Khi quan Đốc-phủ Phạm-nhứt-Thanh tiếp được tin lành, mừng vui chẳng xiết, liền viết thơ gởi xuống Ba-Xuyên mà cho quan huyện Ngọt hay, bảo phải chọn ngày và sắm đủ lễ-vật đem lên, đặng có đi bỏ trầu cau cho sớm.
Ngày giờ thấm thoát, lật bật mà đã trót một tháng ngoài, dưới kia ông huyện Ngọt đã coi được ngày, tương lễ-vật bỉ bàn, đi một chiếc tàu hơi rất to, lên ghé tại Mytho rước quan Đốc-phủ Phạm-nhứt-Thanh, rồi thẳng xuống đến dinh quan phủ Từ-thế-Anh mà đi lễ hỏi.
(Lúc nầy Ký-giả chưa kịp nói ra, mà tưởng khi khán-quan ai ai cũng biết chắc rằng nàng Từ-mộ-Trinh, thì áo nảo âu sầu, cứ rút ở trong buồng, chớ không chịu ra; còn nàng Trần-lệ-Dung thế nào cũng núp lén rình coi cái nhơn-phẫm của công-tử thể nào cho biết).
Mà thiệt quả như vậy đó chút! Khi hai chị em nghe được tin quan phủ đã hứa hôn và bên trai đã tới mà đi lễ hỏi rồi, thình lình như sét đánh vào tai, Từ-mộ-Trinh tâm-thần rủ liệt, bải hoải tay chơn, nước mắt chảy tuôn ra như suối, còn Lệ-Dung thì lén lại đứng núp giựa cữa buồng mà dòm ra, thấy ông mai là quan Đốc-phủ, mặc một cái áo tố màu huân bông lớn, trong lót màu hồ-thủy, đầu bịt khăn đen, nơi trước ngực có đeo 5, 6 cái mề-đay rựt rỡ; còn quan huyện hàm (ông suôi trai) thì mặt một cái áo nhung đen, trong lót màu trứng sáo, kết một bộ nút vàng rất to, gần bằng ngón tay cái; hai bàn tay, bàn nào cũng có đeo chiên-chiên con dấu đỏ lòm, chơn mang một đôi giày hàm ếch thêu cườm, miệng ăn trầu đỏ hoét. Duy có chàng rể là cậu hai Chanh, mặc một cái áo xa-ten, 5 cái nút bằng vàng cũng to bằng viên đạn chiến. Đeo một sợi dây chiền đồng-hồ bằng vàng, tự nách thòng xuống tới lưng quần, ước cũng hơn 5 lượng: đầu cậu bịt khăn đen mà khăn đóng, chơn cậu mang đôi giày ăn-phôn láng ngời, tay chơn kịt cợm, diện mạo tầm thường. Lệ-Dung xem rõ hết mấy người rồi quày trở vô buồng, cứ ngó Mộ-Trinh mà chắc lưỡi lắt đầu thở ra thở vào, chớ cũng chẳng biết nói làm sao cho được.
Khi làm lễ xong rồi bên trai bèn dở cái quả, lấy ra một đôi bông-tai có nhận ngọc xoàn, giá đáng 200 đồng; 3 chiếc cà-rá cũng nhận ngọc xoàn, đáng 9 trăm đồng và 2 lượng hột vàng mà cho nàng dâu, gọi là lễ buột tay. Quan phủ phới phở trong lòng, song ông biết khó mà bảo Mộ-Trinh ra chào cho được, nên ông kiếm chuyện mà kiếu rằng: « Lẽ gì tôi phải bảo con gái tôi ra chào cha chồng nó mới phải, ngặt rủi vì nó rét mấy bữa rày, bây giờ nó lại đương làm cử; vậy xin quan-lớn cùng anh suôi miễn lễ cho nó. » Quan Đốc-phủ liền rước mà nói rằng: « Hay cùng gì thứ cái chào đó, con nít thì nó hay mắc cỡ, dầu nó không đau cũng vậy, đời văn-minh nầy, ta cũng nên chế bớt đi, bó buộc làm chi cho cực lòng con cháu. » Nói rồi vùng cười xoà. Rồi đó hai đàng trò chuyện giao kết với nhau đâu đó xong xuôi thì đồng hồ đã gỏ 11 giờ. Quan phủ liền hối kẻ ở trong nhà dọn tiệc rượu ra, chủ khách ăn uống chuyện vảng vui cười đến 1 giờ trưa mới mãn tiệc. Ngày ấy bà phủ kiếu bịnh không ra, để cho quan phủ làm sao thì làm lấy, hóng chỏ cũng một mình, chớ bà không biết tới.
Tiệc mãn rồi quan Đốc-phủ và hai cha con ông huyện hàm Ngọt liền đứng dậy kiếu từ mà lui gót.
Đây nhắc lại việc nàng Mộ-Trinh, từ ngày thấy cha mình đã chịu bướn cho bên trai tới bỏ trầu cau rồi, ngày đêm hằng áo nảo âu sầu, chứa chan giọt lụy, bỏ ăn quên ngủ, mặt ủ dàu dàu, thốn thức canh chầy, thạn thân trách phận. Lệ-Dung thấy cái quang-cảnh như vậy, tuy cũng buồn lòng, song phải gắn gượng kiếm lời mà an ủi Mô-Trinh rằng: « Nầy chị ơi! Cơ trời dời đổi, dâu biển không chừng, lúc đang rối-rắm, họa phước khó lường; vậy xin chị hãy ráng mà bảo trọng lấy vóc ngọc mình vàng, mà lo lần gở mối tơ vương; nếu chị cứ để ngồi mà khóc lóc mải như vầy thì đã chẳng có ích chi, lại còn làm cho vóc ủ mình gầy, thoản như rủi mà chị có bề nào đi rồi, thì té ra chị lại phụ tình chàng Đổ lắm chăng chi. » Mộ-Trinh nghe Lệ-Dung nhắc tới cái tiếng phụ tình chàng Đổ, thì nàng lại càng động lòng chua xót, giọt lụy tuông rơi mà nói rằng: « Nầy em ơi! Với ai thì chị không dám nói, chớ với em, thì em đã rõ hết cái tâm-sự của chị rồi, thì chị còn giấu giếm em nữa mà làm chi; em nghĩ lấy đó mà coi, vã chị cùng chàng Đổ, tuy chưa chung chăn gối mặc dầu, chớ cùng nhau đã nguyền hai chữ đồng tâm, trăm năm thề chẳng âm thầm cùng ai. Thế mà nay cha chị lại ép bức chị, đem chị mà gả cho một đứa thất-phu kia, thì chị chỉ còn có quyết liều một thác mà thôi, chớ hai chữ hiếu tình không sao cho trọn đươc, mà cái thân bạc-mạng nầy cũng chẳng còn trông mong gì nữa rồi em ơi! Nhưng mà, chị lại còn lo một đều nữa là sau khi chị có nhắm mắt đi rồi thì chị chẳng biết cậy ai mà tỏ nỗi bi hận sầu tràng nầy cùng chàng Đổ; họa là chị nhờ có em đây mà thôi, song chẳng biết em có hết lòng với chị cùng chăng? » Nói tới đó lại động mối thương tâm, mấy đoạn ruột tằm quặn đau chín khúc, nước mắt ròng ròng, chảy tuôn như suối.
— Chị ơi! Xin chị chớ nói làm chi những lời bất tường như vậy, không nên đâu chị à!
— Nầy em ơi! Tài mạng chẳng ưa nhau, trời già hay định vậy; sợ mà khỏi hay sao em?
— Chị ơi! Đã biết rằng: Thiên định thắng nhơn, mà nhơn định cố năng thắng Thiên. Vậy xin chị hãy dằng lòng ẩn nhẩn, gắn gượng một đôi ngày, không lẽ mà ông trời già kia đi nỡ đày ta cho đến thế, sao chị.
— Em ơi! Đã biết rằng: Có trời mà cũng có ta; nhưng mà, xưa nay dễ áo mặt qua khỏi đầu. Nay cha chị đã cho người ta đi lễ hỏi rồi, thế thì còn trông mong trốn tránh đường nào cho khỏi được sao em, chỉ còn có một đều là phải chết mà thôi. Nói tới đó lại khóc ròng. Từ đó Mộ-Trinh chẳng còn chuyện vãn thiệt hơn chi với Lệ-Dung như trước nữa, chỉ cứ nằm liều, như dại như ngây. Tuy có những lời ngon tiếng ngọt của Lệ-Dung khuyên giải hằng ngày thì mặc dầu, song nàng cũng cứ dàu dàu, chẳng hề khuây lảng được; vì vậy mà phải vóc ốm mình gầy, lần lần bèn sanh bịnh, ban đầu còn ít, sau xít ra nhiều; chừng ấy vợ chồng quan phủ mới phát lo, cầu thầy chạy thuốc hết phương mà bịnh của nàng càng ngày càng thêm trầm trọng.
Bà phủ lo sợ xăn-văn, quan phủ cũng điến hồn, liền viết thơ sai người lên tĩnh rước quan thầy thuốc tây về để khán bịnh cho nàng. Nguyên quan thầy nầy tên là ông Giọt (Georges) vẩn là Y-khoa Tấn-sỉ xuất thân, nghề trị bịnh của ông cũng đà nổi tiếng. Khi ông xem bịnh Mộ-Trinh rồi thì ông lắt đầu mà nói với quan phủ rằng: « Bịnh nầy là tâm-bịnh, do nơi lòng buồn rầu ưu uất mà ra, phần thì không ăn uống đã lâu, cho nên tạng phủ gì cũng đều suy hết, thiệt là khó trị lắm, chớ chẳng phải dễ gì. » Vợ chồng quan phủ cứ theo năn nỉ hoài, xin ông cứu trị con mình, dầu hao tốn bao nhiêu cũng không dám nệ. Quan thầy thuốc bèn nói rằng: « Bịnh nầy mà muốn cho mạnh được thì phải có chừng nửa lít máu sống của người mà hoà với thuốc thì họa may nàng mới qua khỏi cùng chăng? Bằng chẳng vậy thì tôi e chẳng quá 5 ngày mà nàng phải xa chơi dị-lộ rồi. » Bà phủ nghe nói khóc ròng: Một ông hại con tôi, hai ông hại con tôi. Bà than trách ông luôn, chẳng hề ngớt miệng. Quan phủ thấy vậy lại càng xốn xang bứt rứt, không biết tính làm sao, vùng nhớ lại Phạm-hữu-Chanh là rể của ông mới lên ở tại nhà quan Đốc-phủ. Ông liền vội vả viết thơ sai người đem đến cho quan Đốc-phủ mà phân rõ căng bịnh của con gái mình, cùng thuật những lời của quan thầy thuốc bình luận chứng bịnh và tỏ ý muốn xin chừng nửa lít máu của rể mình mà hòa thuốc.
(Nguyên lúc nàng Mộ-Trinh nhuốm bịnh quan phủ đã có cho quan Đốc-phủ hay, quan Đốc-phủ lại đánh dây thép liền xuống Ba-Xuyên cho ông huyện hàm Ngọt hay; nhưng vì ông huyện Ngọt còn mắc việc nhà, đi lên không được, duy có bà huyện với công-tử Chanh, hai mẹ con dắc nhau lên ở tại nhà quan Đốc-phủ cho tiện bề tới lui thăm viếng.)
Khi công-tử Chanh nghe quan Đốc-phủ vừa đọc dứt cái thơ của quan phủ rồi thì cậu ta xịt miệng một cái rất mạnh mà nói rằng: « (Sic) Trong thế ông phủ nầy ổng thấy con gái của ổng đau nặng nên ổng đã điên tri rồi; thuở nay người ta thường ăn đồ bổ dưỡng mà kiếm cho có máu, chớ ai lại điên gì đi chích mà lấy máu ra như vậy bao giờ. » Nói rồi liền bỏ lảng ra đường, hối sốp-phơ quây máy ô-tô mà đi hứng gió. Người của quan phủ sai đem thơ thấy cái quang-cảnh như vậy, liền trở về thuật y như lời của công-tử Chanh cho quan phủ nghe. Quan phủ tức giận bồi hồi, bèn nói lớn lên rằng: « Nếu có ai mà dám chịu cho con gái ta chừng nửa lít máu, cho nó được mạnh lành, thì ta sẽ gả không con gái ta cho người ấy. »
Đây lại nói qua việc Đổ-khắc-Xương từ ngày chàng được lời vàng đá của Mộ-Trinh thì chàng lấy làm đắc chí, vì chàng tưởng nhứt sanh của chàng chẳng còn có cái sự mừng nào như vậy nữa. Thiệt là mừng nầy còn có mừng nào cho hơn!
Nào ngờ, chẳng được bao lâu thì chàng lại nghe tin quan phủ đã chịu gả nàng cho công-tử Chanh là con trai ông huyện Ngọt ở dưới Ba-Xuyên, thì chàng lại lấy làm thất vọng, thốn thức canh chầy, bồi hồi tức giận, trách sao quan phủ lại tham giàu mà đi nỡ gả một người con gái như hoa tợ ngọc cho một tay công-tử bột.
Đến sau chàng lại nghe rõ rằng Từ-mộ-Trinh chẳng khứng, bà phủ cũng chẳng cam tâm, duy có quan phủ ép bức nàng mà gả bướn, làm cho nàng ưu uất mà phát đau. Khi nghe rõ hết trước sau, thì chàng lại mặt ủ mày châu, muôn thảm ngàn sầu, chẳng biết làm sao cho được đến thăm nàng mà tạ lòng tri-kỷ.
Cách ít ngày chàng lại nghe được việc quan phủ muốn cầu người xin máu mà cứu nàng. Chàng liền vội vã đến dinh, gởi thiệp xin vào ra mắt quan phủ và tỏ thiệt ý mình. Quan phủ mừng rở chẳng cùng, liền mời chàng vào trong, trà nước ân cần thết đải, rồi viết thơ cho ô-tô lên tĩnh, rước quan thầy thuốc xuống tức thì.
Ô-tô đi chừng một giờ đồng-hồ thì rước đã được quan thầy thuốc về dinh, quan phủ bước ra chào mừng, rồi giới thiệu cho quan thầy biết Đổ-khắc-Xương và tỏ việc chàng bằng lòng cho người chích máu. Quan thầy cũng mừng, lại nghe nói lúc trước chàng đã liều mình mà cứu nàng một phen khỏi chết trong lúc chìm đò, nay thấy nàng bịnh nguy, lại còn vui lòng cho người chích máu mà cứu nàng phen nữa; liền bước lại bắt tay Đổ-khắc-Xương và khen ngợi cái lòng nghĩa dõng của chàng, rồi mới lấy đồ nghề ra chích nơi cánh tay chàng mà lấy chừng nửa lít máu tươi hòa vào ve thuốc của ông đã chế sẵn rồi để đó; lo đặt thuốc hàng cầm máu và bó rịt cho Đổ-khắc-Xương, lại rót ra một ly thuốc nước mà cho chàng uống, để bổ sức lại. Đâu đó xong xuôi, rồi ông mới lấy ve thuốc có hòa máu đó mà định phân ra làm hai chục phần, đem cho Mộ-Trinh uống liền nội hồi đó một phần, còn lại bao nhiêu thì ông dặn phải để chừng vài giờ sẽ cho nàng uống một phần, qua đến chiều tối sẽ cho uống thêm một phần thứ ba nữa, rồi cứ một ngày cho uống 3 lần, uống cho hết ve thuốc ấy rồi thì ắt thấy hiệu nghiệm như thần. Lại cứ mỗi ngày phải mua thịt bò đem về ép máu mà cho nàng uống luôn luôn cho đến khi thiệt mạnh.
Quan thầy thuốc dặn dò quan phủ các việc xong rồi, lại lấy giấy viết toa, giao cho Đổ-khắc-Xương, bảo phải mua thuốc theo cái toa ấy mà uống, và mỗi bữa cũng phải ép thịt bò lấy máu mà uống, cho đủ 20 ngày thì mới bổ sức lại được.
Rồi đó quan thầy liền từ giả quan phủ, lên ô-tô mà trở về trên tĩnh; Đỗ-khắc-Xương cũng đứng dậy từ giả về luôn. Quan phủ dùng lời ngon ngọt cảm tạ ân cần, lại hứa để ít ngày coi nàng uống thuốc thể nào rồi ông sẽ cho hay và rước chàng qua chơi một bữa.
Nhắc lại nàng Từ-mộ-Trinh, trong thì nhờ có thuốc hay điều trị, còn ngoài thì nhờ có một bà mẹ hiền và một người bạn thiết, ngày đêm thường ngồi bên cạnh dùng những lời ngon tiếng ngọt an ủi vổ về, cho nên căng bịnh của nàng càng ngày càng giảm. Chừng đó Lệ-Dung mới đem những việc quan thầy phân đoán chứng bịnh của nàng, cùng những lời vô tình vô nghĩa của Công-tử Chanh đã nói làm sao; còn chàng Đổ tình nguyện chịu cho chích máu cách nào và quan phủ đã hứa làm sao; trước sau ngành ngọn thuật hết một hồi, Mộ-Trinh nghe rõ đầu đuôi, thì nàng lại ngùi ngùi, rất cảm tình chàng Đổ.
Còn bà phủ, khi thấy bịnh con đã giảm được nhiều thì bà vui mừng chẳng xiết. Mộ-Trinh bèn rỉ rén mà thưa với bà rằng: « Nầy má, vã Đổ-khắc-Xương đã hai phen cứu con khỏi chết, thì cái ơn tái-tạo của chàng còn có chi bằng. Huống chi cha con đã có hứa như vậy rồi, thì xin má hãy vì con mà thưa giùm lại với cha con, rằng con quyết trao thân gởi phận cho chàng, gọi là ơn đền nghĩa trả cho toàn thỉ toàn chung; và cũng giữ được tròn cái lời hứa của cha. Nếu ngày nào mà bịnh con đã được mạnh lành rồi, vạn nhứt mà cha lại thay dạ đổi lòng chẳng chịu nhìn lời hứa, cứ đem cái thủ-đoạn gia-đình chuyên chế ra mà đoạt cái chí của con, thì thà là con đành liều một thác mà tạ lòng tri kỷ cho rồi, chớ chẳng thà là để phải thất thân với một kẻ thất phu vô dụng kia vậy. » Bà phủ nghe nói bấy nhiêu lời thì bà cũng động lòng. Bèn thừa dịp rãnh rang, đem hết mấy lời ấy mà tỏ cùng quan phủ. Chẳng dè quan phủ lại là người lòng một dạ hai, khi thấy con mình bịnh ngặt, đau chơn phải hả miệng mà hứa bướn cho có chừng; nay thấy bịnh con đã giãm, thì ông lại muốn nuốt lời; vì, một là thấy Đổ-khắc-Xương nghèo, hai là ham hai trăm ngàn giạ lúa mỗi năm, ba là sợ quyền thế của quan Đốc-phủ. Muốn cho được lưởng toàn, ông liền cho mời Đổ-khắc-Xương đến dinh, trà nước một hồi, rồi lấy ra một trăm đồng bạc, để trong một cái dĩa rồi nói với Đổ-khắc-Xương rằng: « Hôm trước tôi có hứa lời như vậy, ngặt vì con gái tôi đã cho người bỏ trầu cau trước rồi; nên nay không lẽ tôi bỏ phép mà nhìn lời hứa với thầy cho được; nhưng mà, thầy cứu con tôi vẩn đã hai phen, cái ơn ấy cũng là trọng thiệt, vậy xin thầy hãy vui lòng với tôi mà nhậm lấy của nầy, gọi là ơn đền nghĩa trả vậy. » Đổ-khắc-Xương nghe quan phủ nói vừa dứt lời, vùng ngó sững mặt ông mà cười lạt rằng: « Tôi có nghe: Sỉ vị tri-kỷ giả tử. Vì vậy cho nên, tôi chẳng tiếc nửa lít máu của tôi mà cứu tiểu-thơ đây là sở dĩ để đáp tình người tri-kỷ đó mà thôi; chớ tôi có phải đem máu đi bán hay sao mà ông hòng trả tiền trả bạc. Tôi cam lỗi mà tỏ thiệt cùng ông, nhà tôi tuy nghèo, song là nhà thanh bạch, chuộng nhơn nghĩa, chớ chẳng chuộng bạc tiền; vậy xin ông chớ lấy bạc tiền đối đải với tôi mà tội-nghiệp cho tôi lắm vậy. » Nói rồi liền quày quả ra về, chẳng thèm giả từ chi hết.
Quan phủ tuy nghe chàng nói bấy nhiêu lời thì ông cũng có ý hổ thầm, song chẳng biết nói sao, nên phải bỏ qua cho rồi việc.
Còn Từ-mộ-Trinh hay được việc ấy thì rầu rĩ chẳng cùng, bèn thừa dịp lén sai Lệ-Dung qua an ủi Đổ-khắc-Xương rằng: « Chị tôi biết việc chẳng xong, nên sai tôi qua đây mà tỏ thiệt cùng thầy, vì chị tôi vẫn biết thầy là một đấng tài-ba, không phải chịu nghèo đời đâu mà sợ, vậy thì khắp trong Lục-tĩnh Nam-kỳ nầy mà thầy há chẳng chọn được một người vợ nào cho thiệt hiền đức hay sao? Còn phận chị tôi thì xin để kiếp sau sẽ làm thân trâu ngựa mà đền nghì trước mai; chớ kiếp nầy thì thế ắt chẳng được gần nhau rồi, bề nào chị tôi cũng quyết liều một thác; đặng mà, một là để tạ lòng tri-kỷ của thầy, hai là để phá hoại cái thế-lực gia-đình chuyên-chế đó đi mà cứu kẻ hậu lai cho thoát ly cái tệ tục. Chí như chị tôi mà có thác đi rồi, cũng chẳng hại chi, miễn là được đôi ba giọt lụy tình của thầy rơi trên nắm đất, thì chị tôi cũng an lòng mà ngậm cười nơi chín suối vậy. »
Đổ-khắc-Xương nói: « Tôi mà trọng cô hai đây là trọng vì tài-đức, chớ chẳng phải trọng vì nhan-sắc; e rằng cô hai vị tấc đã thiệt biết tôi đó mà thôi, chớ như cô hai mà quả thiệt biết tôi rồi, dầu xong chẳng xong lại hại chi sao? Hà tấc phải chung chăn lộn gối mới gọi là thương? » Lệ-Dung nghe nói dứt lời, trong lòng kính phục chẳng cùng. Liền từ giả trở về thuật lại cho Mộ-Trinh nghe. Mộ-Trinh nghe rõ trước sau, càng nghĩ đến chừng nào, càng yêu vì nết, càng phục vì tình, từ đó đến sau, mối cảm-hoài càng thêm lai láng, vì thế mà căng bịnh của nàng chỉ cứ giây dưa mãi năm nầy sang tháng nọ; chẳng đau thêm, mà cũng không thấy bớt. Làm cho đàng trai cũng phải để vậy mà chờ, chớ không lẽ đi cưới vợ đau về để nuôi báo cô cho được.
Một bữa kia Đổ-khắc-Xương đương ngồi trong nhà mà xem sách, bổng thấy một tên lính trạm ngoài ngỏ bước vào trao cho chàng một tin dây-thép, Đổ-khắc-Xương không biết việc chi, lành dữ thể nào, mà cũng không hiểu ở đâu đánh lại, liền mở ra xem rõ trước sau, mặt mày chàng biến sắc; liền vào nhà trong nói lại cho mẹ chàng là bà Đoàn-Thị hay. Té ra cái dây-thép ấy là dây-thép của ông Hoàng-hữu-Tâm ở Bắc-Kỳ, gởi vào mà cho chàng hay rằng cha chàng đau nặng, phải ra lập tức, đặng coi săn sóc cho ông.
Hay được tin như vậy, hai mẹ con rưng rưng nước mắt, cứ ngồi nhìn sửng mặt nhau, chớ không biết tính làm sao cho tiện. Vã đây mà ra đất Bắc, đường sá rất xa xuôi, bạc trăm đi mới tới, mà hiện nay trong nhà, một đồng một chữ cũng không ngơ, biết lấy chi mà làm lộ-phí. Còn đương lúng túng chưa biết liệu phương nào, Đổ-khắc-Xương vùng nhớ lại bèn nói với mẹ rằng: « Nầy mẹ, con nghĩ cho mẹ con ta lúc nầy thiệt cũng đã cùng đường rồi, vậy con tính đi lên chợ thành mà tỏ với cô giượng con coi, may khi mà được việc. » Bà Đoàn-thị nghe nói lắt đầu, cãng con lại mà nói rằng: « Tưởng ai thì mẹ không cãng con, chớ nói đến Cô ba con, thì con chớ nên đi làm chi vô ích, vậy chớ con không biết ý vợ chồng nó hay sao?
— Dạ, thưa mẹ, con biết lắm chớ, bỡi con biết ý cô giượng của con, nên mới tính đi lên đó chớ.
— Con đã biết ý vợ chồng nó rồi, còn lên mà nói với nó làm chi?
— Thưa mẹ, vả chăng cô giượng của con thuở nay chỉ lấy có một nghề cho vay hoặc là cố ruộng cầm vườn mà làm kế sanh-nhái; vậy bây giờ đây thì mình chỉ còn có một cái nhà ngói 5 căng, với một miếng vườn một mẩu; mà cha con thì đau nặng, xa xuôi nơi đất khách quê người, không lẽ mà mẹ con ta cứ để ngồi khoanh tay nhìn nhau mà khóc; nên con tính lên nói với cô giượng con mà cố phứt cái nhà và miếng vườn nầy cho rồi, đặng kím ít trăm đồng để làm lộ-phí mà đi cho đến Bắc-kỳ và để phòng lo lắn thuốc men cho cha con luôn thể; chẳng hay mẹ nghĩ thể nào? »
Đoàn-thị nghe con nói dứt lời thì rưng rưng nước mắt mà nói rằng: « Cái nhà nầy vốn của ông cố con để lại, đã biết rằng cha con cải chánh cho con đứng bộ đã 2 năm nay, tuy vậy chớ cũng là của tổ-phụ lưu truyền, lẽ thì chẳng nên cầm bán cho ai, ngặt vì nay gặp cơn nguy khuẩn như vầy, thế túng phải tùng quyền, chớ biết sao bây giờ; thôi, con hãy đi đi, thoãn như may mà xong việc, thì lấy bạc đem về đặng có sắm sửa mà đi cho sớm đi con. »
Nguyên Đổ-khắc-Xương còn một người cô ruột thứ ba tên là Đổ-thị-Bườn, còn người giượng rể tên là Phùng-văn-Chỉnh, mà thứ tám, thiên hạ thấy có tiền, nên kêu tưng rằng cậu Tám-Chỉnh, nhà ở phía trong chợ thành, cách chừng vài ba ngàn thước. Hai vợ chồng tròi trọi, chẳng có con cái chi, chuyên có một nghề cho vay cắt cổ mà làm giàu. Bỡi vậy cho nên ông Đổ-khắc-Thới không ưa, tuy là anh em ruột thịt mặc dầu, nhưng mà hai người coi nhau như mặt trăng với mặt trời, năm chí cuối chẳng ai tới lui ai hết thảy. Nay vì thế bức, nên Đổ-khắc-Xương túng phải tùng quyền. Khi chàng thấy mẹ đã an lòng, liền mở tủ lấy giấy-tờ và bằng-khoán đem theo; lại kêu một đứa nhỏ ở trong nhà tên là thằng Hành đi theo cho có bạn.
Khi lên đến nơi, hai thầy trò vừa bước vào nhà, người cô cũng chào hỏi gọi là cho qua buổi, một chặp lâu mà Đổ-khắc-Xương chẳng thấy cô mình hỏi thăm tới cha mẹ mình thì chàng đã có ý buồn; nhưng mà, cực chẳng đã nên phải dằn lòng, ngồi cà rà một hồi rồi mới bày chuyện mình mới được dây thép nói rằng cha mình đau ở ngoài Bắc, nay muốn đi thăm mà ngặt......... » Mới nói tới đó thì người giượng rể là Tám-Chĩnh ở trong buồng mang giày hàm-ếch lẹp xẹp bước ra mà nói chận họng rằng: « Thiệt Anh hai ãnh kỳ quá, ở trong nầy gần gủi vợ con và em út lại không chịu ở, để vượt vồng mà đi ra ngoài Bắc làm gì. Nay lại đau ốm như vầy, mới liệu làm sao? Lại rủi lúc nầy thiệt tao cũng túng điến, ấy cũng tại cô ba mầy nó ham cho tiền lúa, có bao nhiêu cũng tuông ra hết mà cho vay; rủi năm nay thiên hạ lại thất mùa, làm cho tao với cô mầy cũng phải chịu nghèo với họ. » Đổ-khắc-Xương biết ý bèn nói thiệt ra rằng: « Nay cha cháu đã đau mà lại ở xa xuôi nơi đất Bắc, mẹ con cháu ở nhà không lẽ để ngồi mà điềm nhiên tọa thị cho đành; bỡi vậy cho nên mẹ cháu mới sai cháu lên đây mà thưa cùng cô giượng, xin cô giượng làm ơn mà cho mẹ con cháu cố đở cái nhà và miếng vườn chừng bốn trăm đồng, đặng cháu dùng làm lộ-phí ra Bắc-kỳ mà thăm cha cháu, hạn trong một năm thì cháu sẽ đam đủ lời vốn mà chuộc về, xin giượng cùng cô rộng lòng giùm giúp. »
Nguyên lúc vợ chồng Tám-Chỉnh vừa mới nghe Đổ-khắc-Xương nói chuyện cha chàng đau nặng, thì sợ chàng đến quơ tạm vậy thôi, nên đã kiếm chuyện than nghèo, rên trời rên đất; lại ra mòi lạt-lẽo bản-lảng bơ-lơ. Đến khi nghe chàng nói tới việc cầm đất cố nhà là một miếng mồi thơm của vợ chồng mơ ước từ bấy lâu nay. Liền đổi buồn làm vui mà nói rằng: « Thiệt giượng lúc nầy cũng túng quá đi cháu à! Nhưng mà, không mấy khi chị hai và cháu có việc cần dùng, vậy thì giượng cũng ráng mà nhín giùm cho cháu chừng lối 3 trăm; chớ số bốn trăm thì thiệt giượng không có đủ. » Đổ-khắc-Xương biết ý, liệu bề này nỉ cũng chẳng ích chi, bèn đáp rằng: « Số 3 trăm cũng được, song cháu chưa rõ giượng tính tiền lời mỗi tháng là mấy phân?
— Cháu là con cháu trong nhà, chớ chẳng phải người nào, vậy thì giượng cũng tính cho cháu, cứ lợi 3 phân trong mỗi tháng.
— Giượng tính tới 3 phân thì nặng cho cháu quá, xin giượng nghĩ tình cha mẹ cháu mà bớt cho cháu một phân, cháu xin trả nhờ cho giượng 2 phân trong mỗi tháng, ước có được chăng?
— Được đâu cháu, thuở nay giượng cho người ta vay bạc 4, 5 phân, mà cháu là cháu ruột của bả ở nhà và cũng có cố đất cầm nhà, nên giượng mới tính cho cháu có 3 phân thiệt là nhẹ quá, còn xin bớt nỗi gì. Vậy cháu có bằng lòng thì về làm giấy cho chị điểm-chỉ rồi đem lên đây mà lấy bạc, bằng cháu có chê mắt, thì tự ý cháu kiếm được chỗ nào rẽ đó thì cháu kiếm lấy, chớ giượng không có ép. »
Cực chẳng đã Đỗ-khắc-Xương không biết tính làm sao, bèn để thằng Hành ở lại đó, mướn xe chạy riết về nhà nói lại cho mẹ hay. Đoàn-Thị liền sa nước mắt mà nói rằng: « Tánh tình của cô giượng con, mẹ đà biết cháng, đợi gì con phải nói, thuở nay vợ chồng, nó chỉ có cái nghề cho vay rồi khắc bạc nhà nghèo mà làm giàu làm có; nay nó thấy mẹ con nhà ta cấp bức như vầy, nên nó cũng dùng cái thủ-đoạn ấy mà siết họng luôn, chớ nó có kể chi là tình chị-em cô-cháu. Thôi, đương lúc túng cùng, phải sao hay vậy, chớ biết sao bây giờ? »
Đổ-khắc-Xương liền lấy giấy viết tờ đem cho mẹ điểm chĩ xong xuôi, liền quày xe chạy lên nhà cô mà lấy bạc. Khi đến nơi, chàng liền xuống xe đi thẳng vô nhà đem giấy trao cho Tám-Chỉnh coi và hỏi mượn viết mực ký tên mình vào đó.
Tám-Chỉnh coi tờ giấy xong rồi lại nói rằng: « Lẽ thì phải có làng xã thị nhận và đem đóng tiền cầu chứng mới được; nhưng mà việc cháu thì cũng gắp, thôi, giượng cũng chẳng cầu chứng mà làm chi, song cháu phải chịu khó đem về cho làng xã thị nhận cho đủ phép rồi sẽ trở lên đây mà lấy bạc. » Đổ-khắc-xương nghe nói nghẹn ngào, hai hàng nước mắt rưng rưng, chẳng biết tính làm sao, lại phải mướn xe, trở về cậy làng thị nhận. Lúc bấy giờ, thằng Hành tuổi mới 15, nhưng mà nó thấy cái nhơn-tình khe khắc như vầy nên nó cũng chắt lưỡi lắt đầu mà than thầm giùm cho cậu nó.
Còn Đổ-khắc-Xương, khi làng xã thị nhận xong xuôi rồi, liền vội vã trở lên đem tờ giấy giao cho Tám-Chỉnh. Tám-Chỉnh thấy có làng xã thị nhận đủ rồi, chừng đó mới chịu mở tủ sắt lấy bạc đem ra đếm để trên bàn, kêu chàng Đổ bảo lại mà lấy. Độ-khắc-Xương bước tới, thấy sao ít quá, trong lòng phát nghi, bèn đếm lại mà coi, thì thấy có:
.mw-parser-output .wst-toc-table{border-collapse:collapse;background-color:transparent;margin:auto;max-width:100%}.mw-parser-output .wst-toc-table td{vertical-align:top}.mw-parser-output .__toc_row_1-m-1 td:nth-child(1),.mw-parser-output .__toc_row_1-1-m-1 td:nth-child(1),.mw-parser-output .__toc_row_1-1-m-1 td:nth-child(2),.mw-parser-output .__toc_row_1-m-1-1-1 td:nth-child(1),.mw-parser-output .__toc_row_1-1-m-1-1-1 td:nth-child(1),.mw-parser-output .__toc_row_1-1-m-1-1-1 td:nth-child(2){text-align:right;white-space:nowrap;padding-right:1em}.mw-parser-output .__toc_row_1-m-1 td:nth-child(2),.mw-parser-output .__toc_row_m-1 td:nth-child(1),.mw-parser-output .__toc_row_m-1-1 td:nth-child(1),.mw-parser-output .__toc_row_m-1-1-1 td:nth-child(1),.mw-parser-output .__toc_row_1-1-m-1 td:nth-child(3),.mw-parser-output .__toc_row_1-m-1-1-1 td:nth-child(2),.mw-parser-output .__toc_row_1-1-m-1-1-1 td:nth-child(3){width:99%}.mw-parser-output .__toc_row_1-m-1 td:last-child,.mw-parser-output .__toc_row_1-1-m-1 td:last-child,.mw-parser-output .__toc_row_m-1 td:last-child,.mw-parser-output .__toc_row_m-1-1 td:last-child,.mw-parser-output .__toc_row_m-1-1 td:nth-child(2),.mw-parser-output .__toc_row_m-1-1-1 td:nth-child(2),.mw-parser-output .__toc_row_1-m-1-1-1 td:nth-child(3),.mw-parser-output .__toc_row_1-1-m-1-1-1 td:nth-child(4){vertical-align:bottom;text-align:right;padding-left:1em;white-space:nowrap}.mw-parser-output .__toc_row_m-1-1-1 td:last-child,.mw-parser-output .__toc_row_1-m-1-1-1 td:last-child,.mw-parser-output .__toc_row_1-1-m-1-1-1 td:last-child{vertical-align:bottom;text-align:right;padding-left:0.5em;white-space:nowrap}.mw-parser-output .__toc_row_m-3 td:last-child,.mw-parser-output .__toc_row_m-1-1-1 td:nth-child(3),.mw-parser-output .__toc_row_1-m-1-1-1 td:nth-child(4),.mw-parser-output .__toc_row_1-1-m-1-1-1 td:nth-child(5){vertical-align:bottom;text-align:center;padding-left:0.5em;white-space:nowrap}.mw-parser-output .__toc_row_first-l td:first-child{text-align:left}.mw-parser-output .__toc_row_first-c td:first-child{text-align:center}.mw-parser-output .__toc_row_first-r td:first-child{text-align:right}.mw-parser-output .__toc_row_2out-1 td:nth-child(1),.mw-parser-output .__toc_row_1-out-1 td:nth-child(2),.mw-parser-output .__toc_row_1-1-out td:last-child{text-indent:-1.50em;padding-left:1.50em}.mw-parser-output .__no_first_col_padding td:nth-child(1){padding-right:0}.mw-parser-output .__no_last_col_padding td:last-child{padding-left:0} 1 tấm giấy xăng (cent) là. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 100$00 5 tấm giấy hoảnh (vingt) là. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 100,00 8 tấm giấy phiêu 5$ (five) là. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 40,00 6 tấm giấy một (une) là. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 6,00 Cọng. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . = 246$00
Cọng lại hết thãy thì có hai trăm bốn mươi sáu đồng mà thôi, Đổ-khắc-Xương liền nói rằng: « Thưa giượng đếm lộn, đây chưa đủ 3 trăm. »
— Đủ mà! cháu đếm hết thãy đó là bao nhiêu mà nói giượng đếm lộn?
— Dạ, thưa đây có 246 đồng mà thôi.
— À! thì đủ rồi đó, còn lộn nỗi gì?
— Dạ, thưa trong giấy cháu làm đó là 3 trăm đồng mà!
— À! thì phải vậy chớ sao? cháu cố cái nhà và miếng vườn cho giượng giá bạc là 3 trăm đồng phải hông?
— Dạ, thưa phải.
— À, mà trong giấy cháu làm cho giượng đây thì cháu chịu trã lời cho giượng 3 phân và trong hạn một năm thì cháu chuộc lại phải hông?
— Dạ, thưa phải.
— À! vậy mà ức hiếp nỗi gì, cháu còn la thiếu la đủ? Để giượng cắt nghĩa cho rành rẻ cho cháu nghe. Trong số vốn 3 trăm đồng mà bạc 3 phân, thì nhằm mỗi tháng là 9 đồng bạc lời, mà trong một năm 12 tháng thì là: 12 × 9$00 = 108$00. Thế thì trong hạn một năm nhằm 108 đồng bạc lời. Nhưng bỡi cháu là con cháu trong nhà, nên giượng chận trước đi có 6 tháng tiền lời là 54 đồng mà thôi; còn lại của cháu cái số chắc là 246 đồng, còn cái gì nữa. »
Thằng Hành đứng ở ngoài xa nghe Tám-Chỉnh nói như vậy thì nó bắt ghê mà le lưỡi. Còn Đổ-khắc-Xương nghe rõ trước sau thì chưng hửng, tháo mồ hôi, bèn ngó chừng cô ruột của mình mà nói rằng: « Cháu tưởng cái món tiền lời nầy là để tới ngày kỳ hẹn, nếu có đủ thì trả tấc vốn và lời, bằng không có vốn thì trả lời mà làm tờ giấy lại; chớ bạc vốn thì chưa vào tới tay cháu đồng nào, mà giượng lại tính lời mà trừ ngang cấn dọc trước như vầy thì chẳng là tội nghiệp cho kẻ nghèo lắm chăng giượng.
— Ủa! Thằng nói niết!! Việc gì cũng vậy, phải cứ phép mà làm, cháu sợ tội nghiệp cho kẻ nghèo, vậy còn giượng đây, ai mà tội nghiệp cho giượng đó? »
Thị Bườn tiếp nói: « Giượng cháu tính vậy, là ổng thương cháu lắm đa, chớ người ta thì không bao giờ được vậy đâu cháu. Thôi, cháu hãy đem bạc về đặng có lo tính mà đi thăm anh Hai cho sớm đi cháu. »
Đổ-khắc-Xương nghe nói mà ngán ngầm, cực chẳng đã, vì nóng ruột thương cha, nên phải ôm lòng lấy 246 đồng bạc đó bỏ vào túi rồi từ giã bước ra kêu thằng Hành ra chợ tìm quán ăn cơm rồi sẽ về; vì mắc đi lên đi xuống đã đôi ba phen, đến khi xong việc thì đã 3 giờ chiều, chừng ấy mới nhớ lại thầy trò chưa ăn cơm sớm mai. Khi vào quán, hai thầy trò ngồi lại ăn cơm, thằng Hành bèn thỏ thẻ mà nói với cậu nó rằng: « Thiệt tôi ở với ông bà và cậu, từ hồi 7 tuổi cho đến bây giờ, đã 7, 8 năm nay; lúc nhà ông còn khá, người ta tới vay hỏi cũng thường, mà ông với bà chẳng có làm cái thói cắt cổ như cái ông già đó bao giờ; mà mỗi lần có ai tới hỏi, thì ông cứ mở tủ trao bạc ra liền, chớ không có làm khó nhọc cho ai, mà cũng chẳng có trừ ngang cấn dọc mà chận tiền lời trước như vậy bao giờ? Cái người giượng của cậu đây thiệt là ác đức quá cậu há! Vậy mà tự hồi sớm mơi cho tới bây giờ cơm nước gì cũng không ngơ, chẳng thấy ổng bả mời lơi cậu cháu mình lấy một tiếng. Hèn gì họ giàu quá cũng phải; còn ông với bà ở nhà mà cho vay, ai trả cũng tốt, không trả cũng chẳng đòi, đã vậy mà ông lại hay bố thí cho kẻ nghèo hoài, bị vậy mà ông không hết tiền sao được. » Đổ-khắc-Xương nghe thằng Hành nói bấy nhiêu lời, chàng nghĩ tới việc đời càng thêm cháng ngán. Thằng Hành lại nói: « Nầy cậu, cái bà đó là cô ruột của cậu, mà sao kỳ quá cậu há! » Đổ-khắc-Xương nói: « Bà con cật ruột sao cho qua đồng tiền. Thôi, hãy ăn riết cho rồi mà về cho sớm em. »
Khi cơm nước xong xuôi, hai cậu cháu liền kêu xe về nhà thưa lại cho mẹ nghe. Đoàn-Thị nghe con nói rõ trước sau thì khóc ròng rồi lại than rằng: « Thiệt cô giượng của con, chúng nó bất nhơn đà thái thậm, coi đồng tiền là trọng chớ nó chẳng kể gì là cốt-nhục tình thâm; thôi, việc đã như vậy rồi, dầu có nói chi cũng vô ích. Vậy con cứ lo sắm sửa hành-lý mà đi, song con có đi thì phải đi đường bộ cho chắc ý hơn, chớ đừng có đi đường biển mà sóng gió khó lòng, vã cha con sanh có một mình con, vậy thì con phải ráng mà bảo trọng lấy thân con, phòng sau cho có kẻ gìn giữ bát nước vùa hương cho nhà họ Đổ. Huống chi lúc nầy nước nhà đương buổi phân vân, thì xã-hội Việt-Nam nầy chỉ có trông mong vào đám thanh-niên. Vậy thì con cũng ráng mà giữ gìn cái thân hữu dụng, để phòng ra sức mà giúp được một hai đều công-ích mãy-may gì cho xã-hội tương-lai...... » Bà nói tới đó nước mắt chảy ra ròng ròng. Bà liền lấy khăn mà lau rồi nói tiếp thêm rằng: « Vã đây mà ra đến Bắc, đường sá xa xuôi, núi non đèo ải, cách trở gặp ghình. Vậy thì con hãy đem thằng Hành đi theo với con cho có bạn, sớm trưa cậu cháu hủ hỉ với nhau, chớ như phận mẹ ở nhà đây, một mình con Hoa cũng đủ. » Đỗ-khắc-Xương bèn trích trong số bạc ấy, lấy ra ba chục đồng mà để lại nhà cho mẹ, còn bao nhiêu thì bỏ hết theo mình, sắm sửa hành-lý sẵn sàng rồi mới đốt hương nơi bàn thờ, vái lạy tổ tiên và ra lạy mẹ già, rồi lại đi từ giã xóm-diềng mà gởi gắm mẹ mình, phòng khi tối lửa tắc đèn, nhờ có bà con chòm xóm. Sắp đặt việc nhà đâu đó song xuôi, xế lại hai cậu cháu mới dắc nhau quảy đồ đi thẳng lên ga, mua giấy đi Saigon cho kịp xe chiến chót.
Khi lên tới Saigon thì trời đã tối, hai thầy trò bèn quãy đồ vào nhà khách-sạng mà nghĩ ngơi, cơm nước xong rồi, Đổ-khắc-Xương mới tính đi tìm nhà anh em bạn học khi trước mà hỏi thăm việc xin giấy thông-hành phải làm cách nào cho tiện. Thằng Hành thuở nay mới lên tới đầt Saigon nên cũng xin đi theo, đặng xem phố-xá chốn kinh-thành chơi cho biết. Đổ-khắc-Xương liền khóa phòng lại rồi thầy trò mới dắc nhau ra đi. Nguyên người anh em bạn học của Đổ-khắc-Xương nhà ở tại đường Bangkok, gần trước cữa đất thánh Tây. Khi hai thầy trò lên đó, hỏi thăm công việc đã xong, chuyện vãn một hồi thì trời đã khuya lơ khuya lắc. Đổ-khắc-Xương bèn đứng dậy giã từ, rồi hai thầy trò mới dắc nhau đi bộ trở về chỗ ngụ. Khi đi tới trước cữa nhà thờ, tại đầu đường Catinat, ngang lối chỗ hình Đông-cung và hình Cha-cã, tình cờ vùng thấy giữa đàng có một xắp giấy nằm sờ sờ, không biết là giấy chi, thằng Hành liền lượm lên coi, té ra là giấy bạc. Đổ-khắc-Xương chưng hững, không biết của ai rơi rớt như vầy; thầy trò về phòng đóng cữa lại rồi mới mở ra đếm thử mà coi; chừng ấy mới hay, một số bạc rất to, rõ ràng là 2 ngàn 6 trăm 5 mươi lăm đồng chẵn (2655$00). Thằng Hành mầng quá đổi mầng, bèn nói rằng: « May quá cậu há! cái nầy là của trời cho, vậy thì ngày mai cậu hãy mua măn-đa mà gởi về ít trăm trước cho bà, bảo bà hãy đem lên trên cái ông già giượng đó mà chuộc phứt miếng vườn và cái nhà lại cho rồi, kẻo để lâu đây rồi không biết chừng ổng còn sanh tâm mà trận sỏi nữa đa cậu à! » Đổ-khắc-Xương nghe thằng Hành nói vậy thì mĩn cười và nói rằng: « Bạc nầy là bạc của người ta rơi rớt, mình xí-được thì mình mừng, còn cái người làm mất đó chắc là họ phải khóc; họ khóc mà mình cười, thì cười sao cho được đó em? Hoặc của nầy là của một người giàu-có dư-giã thì chẳng hại gì, họ mất cái số bạc nầy, bất quá cũng như lúa trong một bồ, hao năm ba hột. Thoản như nhằm của một người nghèo túng, mới vay bợ của người ta, hoặc là họ cũng gặp việc nguy bức như mình mà phải bán nhà hay là cố ruộng mới có được cái số bạc nầy để mà giải nguy; nay họ bị rủi ro rơi rớt, về tay mình được lại giấu để mà xài; làm cho người phải bị việc hiểm-nguy, hoặc cũng vì số bạc ấy mà phải liều mình tự tử; thì cái lương-tâm của mình há đi vui hưởng cho đành sao em? Thôi, vậy thì hay vậy, em chớ nói vấy không nên; để nghe rõ lại coi cho biết của ai rồi sẽ cho người ta lại. »
Đêm ấy thằng Hành thì cứ chỏng cẳng ngủ khò, còn Đổ-khắc-Xương thì những mảng bồi hồi, lăn qua trở lại, lo tới lo lui, nỗi lo cho cha già ở nơi đất Bắc, không rõ hôm nay bịnh thế thể nào; nỗi lo cho mẹ ở nhà, tròi trọi một mình, vắn trước quạnh sau, không ai phụng dưỡng; nỗi lo cho nàng Từ-mộ-Trinh, không biết rồi đây nàng có được mạnh lành, hay là vì ưu uất cái cuộc duyên nợ trớ trinh mà nàng phải liều mình, trầm hương đấm ngọc. Một mình trằn trọc, thốn thức bàng hoàn; đêm khuya khắc lụn canh tàng, đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời.
Còn đang nghĩ vẩn nghĩ vơ, bổng nghe tiếng kiển nhà thờ đã đổ vang rềnh, Đổ-khắc-Xương giựt mình, liền lấy đồng-hồ nhỏ ra xem; chừng ấy mới hay là 5 giờ sáng.
Trời đã bình minh, Đổ-khắc-Xương bèn ngồi dậy rửa mặt rửa mày, đổi thay quần áo, rồi lo đi ghi giấy thông-hành, đâu đấy xong xuôi thì đã 10 giờ rồi, bèn trở về Lử-quán cơm nước nghỉ ngơi, chờ đến sáng mai tớ thầy sẽ lên xe lửa mà đi ra Bắc.
Chẳng dè trưa lại ngày ấy thằng Hành vùng phát đau bụng nhào lăn, Đổ-khắc-Xương lo chạy lăn xăng trọn cả đêm ngày mới bớt. Vì vậy mà làm cho Đổ-khắc-Xương phải đình đải cuộc hành-trình lại thêm vài ngày, chờ cho thằng Hành thiệt mạnh rồi mới dám lên đường.
Đêm ấy Đổ-khắc-Xương nhơn vì tâm-sự đa đoan, bèn lấy nhựt-báo ra xem chơi cho tiêu khiển. Khi xem đến mục « Nam-kỳ thời-sự » thấy có một khoản như vầy:
« SANG ĐOẠT
« Mới hôm qua đây, có thầy Nguyễn-văn-Thiệt, giúp việc tại hảng rượu R. M. Đ. P. đi đòi tiền cho hảng, làm mất hết một số bạc rất to, 2 ngàn 6 trăm năm mươi lăm đồng (2.655$00). Theo lời thầy ấy khai thì thầy nói rằng vì sự vô ý rủi ro làm rơi mà mất; còn ông chủ hảng thì không tin, (ai mà tin được) nghi quyết rằng thầy ấy cố ý sang đoạt của hảng, nên cò bót đã bắt Nguyễn-văn-Thiệt mà giải lên cho quan Biện-lý. Hiện nay thầy ấy đã bị giam rồi, việc chưa biết thiệt giả thể nào, để chờ quan Bồi-thẩm tra hỏi phân minh, rồi kỳ Báo sau sẽ đăng tiếp. »
Đổ-khắc-Xương xem đi đọc lại đôi ba lần rồi mới để tờ nhựt-báo xuống, lấy số bạc đem ra đếm lại mà coi, thì cũng rõ ràng là 2 ngàn 6 trăm năm mươi lăm đồng, chẳng dư chẳng thiếu; rất phù hạp với số bạc đã nói trong tờ nhựt-báo, bèn kêu thằng Hành mà nói rằng: « Đó! Em có thấy không? Cái số bạc đương nằm trong rương trong trấp của chúng ta đó, nó làm cho một người lương-thiện kia phải chịu lao tù trong khám đó, em có thấy chưa? »
— Vậy rồi bây giờ cậu tính sao?
— Thì phải đem mà trả hết lại cho người ta chớ tính sao?
— Cha! uổng quá cậu há!!
— Ậy! Của người ta thì trả lại cho người ta, chớ phải của mình hay sao mà em gọi rằng uổng.
— Thiệt ít ai như cậu vậy quá! mà tánh cậu cũng giống ông quá! Hèn chi cậu nghèo cũng phải.
— Nầy em! con người ta ở đời chẳng phải là lo nghèo, chỉ lo không có đức-hạnh kia mà thôi; phàm những của chẳng phải nghĩa thì chớ nên tham quấy. Thôi, em hãy uống thuốc đi cho mau mạnh đặng có lên đường. »
Sáng ra bữa sau, vào lối 7 giờ, Đổ-khắc-xương đổi thay y-phục xong rồi, bèn lấy số bạc ấy đem theo, kêu xe kéo chạy ngay đến bót xin vào ra mắt ông Cò, trình gói bạc ra và bẩm rằng: « Hôm nọ tôi đi đường, có xí được một gói giấy bạc nầy nằm tại đầu đường Catinat, gần lối hình đức Đông-cung và Cha-cả. Tôi không biết của ai, nay xem trong nhựt-báo mới hay là của Nguyễn-văn-Thiệt làm rớt mà thầy ấy còn đương bị giam tra; tôi không nỡ giấu nhẹm ăn xài, mà để cho người bị hàm oan tội nghiệp, nên tôi phải đem đến mà trình nạp cho ông, xin ông hãy đệ trình cho quan Biện-lý được hay mà tha người làm phước. » Ông Cò thấy vậy cũng ngạt nhiên, bèn nhìn sửng Đổ-khắc-Xương, thấy chàng tuổi tuy còn nhỏ mà khí vỏ hiên ngang, lại có lòng hào-hiệp khẳn-khái như vầy, lại thấy chàng nói tiếng Lang-sa cũng giỏi, liền bắt tay chàng mà khen ngợi chẳng cùng.
Rồi đó ông Cò liền đánh dây-thép-nói lên mà trình cho quan Biện-lý hay. Trong 5, 7 phút đồng-hồ, thì trên quan Biện-lý lại đánh dây-thép-nói xuống, dạy ông Cò phải đem số bạc ấy lên mà nạp cho quan Bồi-Thẫm và cũng mời luôn Đổ-khắc-Xương lên tại phòng quan Bồi-Thẫm. Vì tuân phép nước, nên Đổ-khắc-Xương cũng phải theo ông Cò mà đi lên Toà. Khi lên đến nơi, vừa bước vào phòng quan Bồi-Thẫm, thì thấy có ông chủ hảng rượu cũng vừa mới đến. (Ấy là khi quan Bồi-Thẫm được tin ông Cò trình-bẫm, thì ngài cũng đánh dây-thép-nói liền nội hồi đó mà mời ông Chủ hảng rượu lên). Ông Cò bước vào trình diện Đổ-khắc-Xương cho quan Bồi-Thẫm, thì quan Bồi-Thẫm liền đưa tay ra bắt-xua (Bonjour) Đổ-khắc-Xương; ông chủ hảng rượu cũng bước lại bắt tay Đổ-khắc-Xương mà khen phục chẳng cùng. Khi Quan Bồi-Thẫm hỏi tên-họ tuổi-tác và chức-nghiệp của Đổ-khắc-Xương vừa rồi thì kế thấy lính sơn-đầm ở dưới khám đã dẫn Nguyễn-văn-Thiệt lên vừa tới. Quan Bồi-Thẫm liền dạy mở còng ra rồi chỉ Đổ-khắc-Xương mà nói với Nguyễn-văn-Thiệt rằng: « Số bạc 2.655$00 của thầy làm mất đó, mà thầy Đổ-khắc-Xương là người nầy đây, đã xí-được và đã đam nạp đủ cho ta đây rồi, (và nói và đưa xắp giấy bạc ra cho Nguyễn-văn-Thiệt coi). Ấy vậy thì cái lời của thầy đã khai với ta đó quả là lời khai thiệt; xét lại thì thầy là người vô tội, nên ta tha thầy đó. » Nguyễn-văn-Thiệt mừng rỡ chẳng cùng, liền tạ ơn quan Bồi-Thẫm, rồi day lại mà tạ ơn Đổ-khắc-Xương. Rồi đó quan Bồi-Thẫm liền giao nguyên số bạc ấy lại cho ông chủ hảng rượu lãnh lấy đem về. Đổ-khắc-Xương cũng đứng dậy từ tạ quan Bồi-Thẫm mà lui chơn. Về đến Lử-quán, Đổ-khắc-Xương bèn vội vàng tính trả tiền phòng rồi hối thằng Hành kêu xe chở đồ hành-lý dời đi tiệm khác mà nghỉ, đặng sáng mai thầy tớ sẽ thượng trình.
Còn thằng Hành, khi nghe cậu nó hối đi kêu xe thì nó cứ việc kêu xe, hối nó dọn đi thì nó cũng cứ việc dọn đi chớ không rõ việc chi hết cả. Đến chừng nó thấy dời lại chỗ Lử-quán khác thì nó mới lấy làm lạ mà hỏi rằng: « Sáng mai nầy thì mình mới đi, sao không ở chỗ đó đặng mai mà đi luôn, lại dời đến chỗ nầy làm chi, đã mất công mà lại còn tốn thêm tiền xe kéo vậy cậu? » Đổ-khắc-Xương nói: « Vì thầy Nguyễn-văn-Thiệt nhờ trả số bạc lại nên thẩy mới được tha; chắc sao thẩy cũng tiềm mình mà đền ơn đáp nghĩa, vì vậy nên qua phải dời đi, nếu để thẩy tiềm được mà đem lễ-vật tới rộn ràng, ý qua không muốn. » Thằng Hành nghe nói thì mĩn cười, rồi cũng nói rằng: « Thiệt ít ai như vậy quá! » Mà quả chẳng hỏi như lời của Đỗ-khắc-Xương liệu trước; nên trưa lại bữa ấy, Nguyễn-văn-Thiệt mua sắm lễ-vật một mâm vung chùng, đi tiềm Đỗ-khắc-Xương mà đền ơn. song đi một ngày mà hỏi không ra tung-tích, cực chẳng đã nên phải đem về; rồi mướn nhựt-báo ấn hành những đều đích-thiệt về vụ mất bạc ấy ra cho công-chúng được hay, trước là nêu cái gương tốt của người ơn mình, sau là để tỏ cái sự thiệt của mình là người vô tội v.v....
Đây nhắc lại hai thầy trò Đỗ-khắc-Xương, sáng ra bữa sau dắc nhau lên xe lửa đi tối một ngày ra mới đến Nha-trang (ấy là tĩnh Khánh-hòa). Hai thầy trò bèn dắc nhau đi tìm chỗ nghỉ đỡ một đêm, rồi sáng mai hoặc đi bộ, hoặc đi cáng mà lần ra Cữa-Hàng, (Tourane) là chỗ mối đường xe lửa.
Đường đi từ Nha-trang ra đến Cữa-Hàng (chỗ nầy Annam ta kêu là Cữa-Hàng, hoặc kêu là Đà-Nẵng, còn người Tây thì lại kêu là Tourane; cọng là 562 cây số, (kilomètres) phân ra làm hai chặn: một chặn từ Nha-trang ra tới Qui-nhơn, 240 cây-số; còn một chặng từ Qui-nhơn ra tới Cữa-Hàng, 322 cây số. Hai chặn đường nầy chưa có đường xe lửa, chỉ có vài cái ô-tô để đưa hành-khách vậy thôi, ngặt vì giá tiền mắc-mỏ lắm: còn thầy trò Đỗ-khắc-Xương trong mình tiền bạc chẳng nhiều, nếu đi ô-tô thì tổn phí rất nhiều, đã lo bận đi còn phòng bận về, phần thì để dành chạy thuốc cho cha, vì vậy cho nên hai thầy trò mới tính dắc nhau đi bộ, hễ khoẻ thì đi bộ với nhau, bằng có mệt lắm thì lại mướn cáng mà đi cho đỡ chơn một vài khúc.
Ngày đi đêm nghỉ, lần lần ra gần tới núi Cù-mông, hai thầy trò còn đương xàm-xuối dậm trường, bổng thấy một bọn ăn cướp hơn chín mười người, thình lình trong bụi xông ra chận đường, bắt hết cả hai thầy trò, lục lưng lấy hết bạc tiền, rồi trói lại dẩn đem về núi, giam nơi sau trại.
Đêm ấy trời trong trăng tỏ, cảnh vật êm đềm, tên đầu-đãng của bọn cướp ấy nhơn buồn vì tâm-sự, bèn rảo bước đi ra phía sau, xem trăng hứng gió mà chơi cho tiêu khiển.
Còn đương rảo bước thung dung, vùng nghe có tiếng hai người chuyện vản than thở với nhau rằng: « Rũi quá cậu há! Ông đau ở ngoài không biết thể nào, bà ở nhà có một mình trước sau hiu quạnh; còn thầy trò mình lại bị bọn cướp nó bắt như vầy thì làm sao mà đi cho thấu tới ông? » Rồi lại nghe tiếng người sau nói: « Quân cướp nầy thiệt là bất nhơn quá, bỡi ta nghe cha ta đau, nên ta phải đem hết nhà đất mà cầm cố được có bấy nhiêu tiền, tưởng để đem ra mà rước cha ta về, cùng là lo than thuốc cho người. Chẳng dè đã bi cô với giượng ta tính tiền lời cho quá lẽ mà chận đầu chận đuôi cướp hết một mớ rồi, nay còn có bấy nhiêu, đi mới tới đây, lại bị bọn nầy nó giựt hết, lại còn bắt thầy trò ta mà nhốt lại đây, làm cho ta đi đâu cũng chẳng tới đâu, vạn nhứt mà cha ta rũi có bề nào thì ta ắt trốn chẳng khỏi cái danh bất hiếu. » Nói đến đó vùng sa nước mắt. Tên đầu-đãng nghe nói mấy lời như vậy thì cảm xúc chẳng cùng, bèn lén bước lại gần mà nghe cho rõ. Vừa bước tới lại nghe người trước nói rằng: « Tôi nghĩ lại thiệt không biết thiên lý ở đâu? Lẽ gì người lành như cậu vậy thì gặp phước mới phải chớ, có đâu mà lại cứ gặp ăn cướp như vầy hoài: đã có của đem mà cầm cố cho họ, họ đã tính lời cho quá lẽ, lại còn chận mà trừ trước hết 6 tháng tiền lời, có phải là quá ăn cướp không? Ý là cô ruột đa, chớ phải người dưng mới bực nào nữa; rồi nay đi mới tới đây lại còn bị bọn ăn cướp nầy nữa, thiệt số cậu sao xui quá! May là hôm ở Saigon cậu đem 2 ngàn mấy trăm đồng bạc xí được mà cho người ấy lại cũng còn có ơn, chớ phải cậu nghe lời tôi nhẩm lấy mà đem theo, thì cái lũ nầy nó cũng lục lưng mà lấy ráo, chớ chẳng có ích gì. Mà cậu đã hay làm đoan làm phước như vậy, lại gặp tai họa luôn luôn, nếu trời đất mà để như vầy thì ai thèm làm phước nữa. »
Tên đầu-đãng đứng ngoài nghe rõ hết trước sau thì gặt đầu và nói thầm rằng: « Nếu vậy người nầy quả là người hào-hiệp trượng-phu, ta cũng nên tha người mà làm nghĩa. » Nghĩ rồi liền bước tới tằng-hắng lên một tiếng, mở cữa bước vào. Thầy trò Đỗ-khắc-Xương còn đương than thở với nhau, bổng nghe có tiếng người tằng-hắng bèn lẳn lặn làm thinh, kế thấy cữa mở tung ra, có một người trai-tơ trạt chừng hai mươi ngoài tuổi, hình dung tuấn tú, diện mạo khôi ngô, xô cữa bước vào, rồi đi thẳng tới xá Đỗ-khắc-Xương và nói rằng: « Trẻ ở của tôi nó không biết mà bắt lầm, làm cho thầy lo sợ, thiệt là tội lỗi quá, vậy tôi xin mời thầy theo tôi ra nơi nhà trước rồi tôi sẽ phân trần lai-lịch cho thầy nghe. » Lúc bấy giờ, cả hai thầy trò Đỗ-khắc-Xương thiệt là tuyệt địa phùng sinh, không biết ất giáp gì, nên cũng cứ việc đi theo ra nơi nhà trước xem thử lẽ nào cho biết.
Ra tới nơi người trai-tơ ấy chỉ ghế mời ngồi, rót trà mời uống, rồi mới nói rằng: « Tôi đứng ngoài nghe thầy nói chuyện với thằng em đây, thì tôi mới biết thầy là người hiền lương phương chánh; song tôi cũng không biết lịnh-tôn đau ở tại đâu, mà thầy phải cầm cố vườn đất mà đi thăm như vậy, xin thầy hãy nói hết cho tôi nghe, hoặc tôi có thể mà giúp sức với thầy trong chỗ thầy bất cập. » Đổ-khắc-Xương thấy người trai-tơ ấy nết na nghiêm nghị, ăn nói đàng hoàn, thì lấy làm lạ mà nghĩ thầm rằng: « Ta xem thái-độ và cử-chỉ của người nầy thiệt chẳng phải là người tầm-thường, sao lại tụ chúng nơi chốn san-đầu mà đi ăn cướp, hoặc là kỳ trung cũng có duyên-cớ chi đây; thôi, ta là người thanh bạch, cũng chẳng cang chi mà phải giấu ai, để ta tỏ thiệt gia-sự của ta cho chàng nghe, rồi lần lần ta sẽ dò la, coi chàng là người thể nào cho biết. » Đỗ-khắc-Xương mới đem hết việc nhà tự thỉ chí chung, từ ngày còn học trong trường, học tới năm thứ năm, thi hai lần mà không đậu; gia vận suy vi, cha mình phải đi ra Bắc, đến khi nghe tin cha đau, mới đi cố nhà cầm đất, lại bị cô với giượng mình cho vay ăn lời siết họng, cho đến khi đi tới đây mà bị bắt, đầu đuôi gốc ngọn thuật hết một hồi cho người ấy nghe. Người ấy nghe Đỗ-khắc-Xương nói dứt lời, bèn chíp miệng than dài rồi nói rằng: « Từ xưa đến nay những đấng tài-tình thường bị ông xanh ghen ghét, ấy cũng là lẽ tự nhiên, duy có một đều là khi nãy tôi có nghe thằng em đây nó nói chuyện rằng thầy có xí được một số bạc hơn hai ngàn mấy trăm đồng, lại nhằm lúc thầy đương khuẩn bức túng cùng, thầy không để mà xài, lại đem mà trả lại cho người, thiệt là đều ấy thế gian cũng hi hữu, tôi kính phục chẳng cùng. Chí như cái việc mà thầy bị bà cô với ông giượng cho vay cắt cổ, chẳng kể chi cốt nhục thân tình đó, thiệt tôi nghe nói mà ngán ngầm, không hiểu tại sao mà đời có nhiều người ham tiền bạc quá; nhà giàu thì cứ bức sách kẻ nghèo, còn người có chức phận thì cứ dụng quyền-thế mà rút rĩa dân lương-thiện. Tôi nói thiệt với thầy, tôi đây vẩn là người Bình-Định, tên tôi là Nguyễn-hạo-Nhiên, mẹ tôi mất sớm, cha tôi xưa ngồi Tri-phủ tại phủ Qui-nhơn, cũng bỡi tánh tình cang trực, không ưa xu phụ, chẳng chịu phùng nghinh; lại thêm bĩnh tánh thanh liêm, nên không có của dư mà lễ lộc với Thượng-ti, vì vậy mà họ không ưa, mới kiếm cớ mà hại cho cha tôi bị cách. Cha tôi về nhà chẳng được bao lâu rồi lại thọ bịnh mà qua đời. Lúc cha tôi còn sanh tiền, còn đương tại chức, người có giao hôn với một ông Huấn-đạo tên là Trần-xuân-Khôi; lúc ấy tôi và con gái của ông tuổi còn xung ấu, nên chưa tính việc hôn nhơn, nhưng cũng vì họ ghét cha tôi mà làm lây cho tới ông Huấn-đạo cũng đồng bị cách luôn với cha tôi một lược. Ông Huấn-đạo thất chí buồn lòng, bèn dắc hết cả gia-quyến vào ở Nam-Kỳ dạy học chữ nho và chuyên nghề làm thuốc. Nghe nói ông vào trong ấy mấy năm làm ăn cũng là phát đạt lắm, rũi sao hai ông bà lại kẻ trước người sau, nối nhau mà tạ thế đi hết, còn nàng ấy không biết lưu lạc xứ nào, tôi cũng là hết sức hỏi thăm mà không ai rõ được; nói tới đây mà tôi lại ngùi ngùi. Chí như phận tôi, tuy mẹ cha đã khuất hết thì mặc dầu, song tôi cũng phấn chí học văn tập vỏ, chờ ngày ra ứng cử, họa may có thi đậu để hầu kế chí cho cha tôi. Chẳng dè tôi lại gặp những tham-quan ô-lại, nó chận nẻo đón đường nếu chẳng có của hối thì khó trông mà đậu được. Trong nẻo quan-trường thì như vậy, còn ngoài đường đời thì lại nhiều nỗi gay go. Tôi coi thiên hạ làm sao mà phần nhiều đều là tay nham hiểm nịnh tà, tham lam dối giã; những kẻ giàu sang mà dầu cho hư đọa nhơ nhớp cách nào, họ cũng kính cũng tôn, nhuốt nhơ hơn hết là những bọn loạn-luân mà hễ nó có tiền thì họ cũng bưng cũng bợ, còn như người nghèo khó, dầu có phải cách nào họ cũng xúm nhau mà khi ngạo dể khinh, thiệt nói tới cái nhơn-tình mà tôi chán ngán, nó làm cho tôi tức giận tràng hông, thầy nghĩ đó mà coi kẻ làm quan thì chĩ biết có một đều tham nhủng, mong lòng sâu mọt, thâu liểm của dân, chuyện chết nói sống, chuyện sống nói chết; ai than ai khóc mặc ai, cứ dùng quyền-lực của mình mà bỏ đầy cái túi tham cho thõa thích, còn những kẻ giàu thì cũng chĩ cứ dùng cái thế-lực kim-tiền mà bức sách kẻ nghèo, lo tom góp cho đầy tủ đầy rương, rồi để cho những lũ con hư, mặc sức nó ăn xài phá táng, chớ chẳng thấy ai là người yêu nước thương dân, đành nới cái miệng túi ra mà chung cùng lo lắng mở mang học-thuật cho đám thanh-niên, hầu sau có chấn chỉnh cái vận mạng của nước nhà cho vẻ vang cùng thế-đạo. Ai đi, đương buổi thế-giái phong trào quốc-gia điên đão nầy mà nông tệ cũng không hay, thương hư cũng chẳng kể, cũng chẳng biết quốc-gia xã-hội là chi, chỉ cứ mạnh ai thì nấy lo cho vinh thân phì gia, ăn sung mặt sướng, bỏ liều hai mươi mấy triệu con Lạc cháu Hồng, mặc dầu sống say thác ngủ. Thầy nghĩ mà coi, có đáng buồn không? Bỡi buồn, bỡi giận, bỡi tức như vậy, nên tôi mới dắc hết gia-dịch của tôi lên núp ẩn tại chốn nầy, chịu mang danh ăn cướp, để đón những tham-quan ô-lại cùng những quân vi phú bất nhân, bắt chúng nó mà rửa hờn, hoặc cho gia-quyến chúng nó chuộc lại, để lấy tiền mà phân phát cho những nhà đói khó; mấy năm hạn lục, dân Trung-Kỳ đói rách khốn cùng, cũng nhờ của ấy, mà tôi phân phát giúp đỡ cho nhiều nhà khỏi chết; lại cũng nhờ có đồng tiền bất nghĩa của bọn vi phú bất nhân ấy mà mới trong năm rồi đây tôi đã lén giúp được cho hai người học-sanh nghèo sang Tây du-học, rồi từ đây nếu tôi tích trử được ít nhiều, hễ tôi coi có hội nào để lo mở mang công-ích cho đồng-bào, thì tôi cũng tìm cách ẩn danh gởi dâng cho Hội ấy. Nay may mà tôi gặp được thầy là người cao nghĩa, nếu thầy chăng chê tôi làm nghề đê tiện, thì tôi quyết kết làm sanh tữ đệ huynh, xin thầy chớ phụ. » Đổ-khắc-Xương nghe nói dứt lời, ngồi suy nghĩ một hồi rồi nói rằng: « Tôi xem cái việc cử thố của thầy đây thiệt là hào-hùng nghĩa-hiệp, chẳng phải kẻ tầm thường mà làm như vậy được đâu; nếu thầy chẳng chê tôi là kẻ nhu nhược mà tưởng đến tôi, thì tôi cũng nguyện kết làm bằng hữu. » Hạo-Nhiên nghe nói rất mừng, bèn hỏi thăm cho biết tuổi nhau. Té ra Nguyễn-hạo-Nhiên có 22 tuổi phải làm em, còn Đổ-khắc-Xương 24 tuổi lớn hơn, nên làm anh cho nhằm thứ tự; hai đàng gặp nhau ý hiệp tâm đầu, những mảng chuyện trò mà trời gần sáng. Hạo-Nhiên liền kêu gia-dịch hối làm gà vịt nấu cơm cho hai thầy trò Đô-khắc-Xương ăn, đặng có lên đường cho sớm; rồi day lại nói với Đổ-khắc-Xương rằng: « Anh em ta mới gặp, lẽ thì em phải làm một tiệc cho xứng đáng mà đãi anh và cầm anh ở lại chơi năm mười ngày mới là phỉ dạ; ngặt vì Bác quí-thể bất an, anh gắp đi thăm Bác, em chẳng dám cầm, nên phải tạm dùng đạm bạc, đôi ba món đồ hèn mà đưa anh thượng lộ. » Khắc-Xương khiêm nhượng vài lời rồi mới ngồi lại dùng cơm với nhau. Còn thằng Hành thì cũng ăn cơm nơi nhà sau với bọn gia-dịch.
(Xin hãy xem qua cuốn thứ nhì mới dứt chuyện).
Cuốn thứ nhì
Khi ăn uống rồi, Hạo-Nhiên bèn lấy số bạc của Khắc-Xương mà bọn lâu-la đã lục lưng thâu lấy hôm qua đem ra, hai tay trao lại cho Khắc-Xương, miệng cười chúm chím mà nói rằng: « Nầy là nguyên bích phụng huờn, xin anh cất lấy. » Đỗ-khắc-Xương cãm tạ chẳng cùng, rồi lấy bạc cất để trong lưng. Hạo-Nhiên lại lấy ra thêm hai trăm đồng nữa, đựng trong một cái dĩa để ngay giữa bàn mà nói với Khắc-Xương rằng: « Nầy là vật hèn chút đỉnh, của em tạm đưa huynh-trưởng đi đường, xin anh thâu nạp. » Đỗ-khắc-Xương quyết ý chối từ, mà không chịu lấy. Hạo-Nhiên cứ này nỉ năm ba phen, cực chẳng đã Khắc-Xương phải lấy nhón có năm chục đồng cho Hạo-Nhiên vui dạ. Rồi đó thầy trò mới xách đồ hành-lý từ giả ra đi, Hạo-Nhiên cùng đi cho tới bến ô-tô, lại mua giấy luôn ba người, theo đưa Khắc-Xương ra tới cữa Hàng (Tourane) là chỗ có bến xe lửa rồi mới trân trọng đôi lời, từ giả Khắc-Xuơng mà trở lại.
Khi Hạo-Nhiên trở về rồi, thầy trò Khắc-Xương mới lo mua giấy xe lửa mà đi ra cho tới Đông-hà, tới đó hết đường xe lửa, nên phải mua giấy ô-tô đi thẳng ra tới Vịnh (Nghệ-An). Rồi từ Vịnh mà ra Hà-nội thì lại phải đi xe lửa.
Trong lúc xe chạy rần rần, thằng Hành ngồi ngó mông hai bên, ngẩm nghĩ việc đời rồi cứ tũm-tĩm cười hoài. Đỗ-khắc-Xương thấy vậy hỏi rằng: « Em đắc chí việc gì đó lắm hay sao, nên cứ chúm chím cuời hoài vậy em? » Thằng Hành nói: Thưa cậu, tôi có việc gì đâu mà gọi là đắc chí. Nhưng tôi ngồi nghĩ lại ở đời, việc gì cũng vậy, hễ có trải qua rồi mới biết được sự dại khôn, từ hôm tôi theo cậu tới nay, chẳng có mấy ngày, mà tôi đã học được một sự khôn; hèn chi người ta nói:
Đi cho biết đó biết đây, Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn.
Thiệt phải quá. Tôi từ lúc nhỏ ở với ông bà, hễ nghe tới cái tên Ăn cướp. Trời ơi! Ăn cướp! Thiệt tôi sợ hết hồn; ý tôi tưởng ăn cướp nó dữ tợn như hùm như cọp vậy kià. Nay tôi thấy cái đám ăn cướp mà bắt hai cậu cháu mình đây, rồi tôi mới biết khôn, nên tôi sóng lại với mấy ông quan hay sâu dân mọt nước, với mấy chú nhà giàu mà vi phú bất nhân, cho vay ăn lời cắt cổ, tiền phóng trái hậu đoạn mải, hoặc lợi tăng gia lợi mà siết họng nhà nghèo. Cậu xét lại cho rõ mà coi, thiệt quả cái lũ đó, nó còn ác hơn quân ăn cướp nữa đa cậu à! Phải hông cậu? » Đỗ-khắc-Xương nghe thằng Hành nói vậy cũng thấm ý mà tức cười.
Khi xe lửa tới bến Hà-nội rồi, hai thầy trò bèn xách đồ hành-lý dắc nhau ra đường, kêu xe kéo chạy đi tiềm nhà ông Hoàng-hữu-Tâm. Tiềm đến chỗ rồi hai thầy trò xách đồ ở ngoài ngỏ bước vô, Đỗ-khắc-Xương trong lòng nửa mừng nửa sợ, hồi hộp chẳng yên, không biết cha mình hôm nay bịnh thế thể nào, nên hễ bước vào gần tới chừng nào thì trong lòng lại nôn nao chừng nấy. Khi vào tới nhà rồi, nghe người nhà nói lại rằng cha mình nhờ có ông Hoàng-hữu-Tâm hết lòng lo lắng thuốc men, nên nay ông cũng đà thuyên giảm. Chừng đó Đỗ-khắc-Xương mới hết sợ lại mừng, bèn xin dắc vào cho tạn mặt cha. Hai cha con vừa thấy mặt nhau, vừa mừng vừa tủi, nước mắt rưng rưng. Một chặp lâu ông mới hỏi thăm qua việc nhà ấm lạnh. Đỗ-khắc-Xương bèn thuật hết việc nhà và tỏ hết việc đi đường cho ông nghe. Thằng Hành cũng vào thăm ông, ý nó cũng mừng quýnh, nên nói lia nói lịa, Rồi đó ông mới tính với Đỗ-khắc-Xương để ở lại nghĩ ngơi chừng năm ba bữa, cho ông uống thêm ít thang thuốc nữa, tinh-thần cho được hưng vượng vững vàng, rồi cha con sẽ đề huề dắc nhau về Nam-kỳ mà an dưỡng cùng thuốc men cho thiệt mạnh, nay bịnh ông tuy khá, song lo vì phong-thổ khác nhau, sợ mùa Đông cũng gần sắp tới đây, e ông chịu lạnh không quen mà phải khốn. Hai cha con còn đương bàn tính với nhau, kế nghe trẻ ở nói rằng ông Phán ở trên sở đã về. Đỗ-khắc-Thới liền gượng ngồi chờ dậy vịnh vai con đi ra nhà ngoài, rồi giới-thiệu Khắc-Xương cho ông Phán Hoàng-hữu-Tâm biết mặt. Khắc-Xương vội vàng cúi lạy ông Phán để tỏ lòng tạ ơn ông chiếu cố cha mình. Ông Phán cũng vội vã bước tới nắm vai Đỗ-khắc-Xương kéo lên, chớ ông không cho lạy: rồi bảo ngồi lại chuyện vãn mà chơi cho ông hỏi thăm việc kia cùng việc nọ; ông hỏi thăm qua tới cái vấn-đề kinh-tế ở Nam-kỳ, thì Đỗ-khắc-Xương bèn đam những đều lợi hại, những cơ tấn thối mà nói rót một hồi, thiệt là ngôn ngữ như lưu, ông Phán hết lòng kính phục.
Việc chàng ra Bắc cha con gặp nhau đã yên, còn chờ ít ngày cho tinh-thần ông khoẻ-khoắn rồi sẽ trở về Nam.
Đây ký giả xin nhắc lại việc nhà của nàng Từ-mộ-Trinh; từ ngày nàng nghe Đỗ-khắc-Xương mắc đi ra Hà-nội mà thăm cha chàng rồi, thì nàng mới bàn luận với mẹ, rồi xin tiền lén sai Lệ-Dung đem qua châu cấp cho mẹ chàng là bà Đoàn-Thị. Đoàn-Thị ban đầu còn từ chối mà không chịu lấy. Sau nghe Lệ-Dung tỏ hết tấm lòng từ-thiện của bà phủ và cái lòng tiết nghĩa trinh bạch của Mộ-Trinh: nên bà cũng cãm tình mà phải thọ ơn của hai mẹ con bà phủ.
Còn quan phủ, nhơn thấy Mộ-Trinh cứ đau giây dưa hoài, năm nầy sang tháng nọ, ông lo lắng thuốc men cũng hết sức, trông cho nàng mau mạnh mà gả phứt cho rồi; chẳng dè bịnh nàng đã không mạnh mà cũng chẳng thêm, chỉ cứ dả-dượi mải hơn mấy tháng trời, nên ông cũng chẳng biết làm sao, không lẽ đem con mà gả bướn.
Bữa nọ đương buổi giờ hầu, bổng nhiên ông tiếp được giấy của quan trên gởi xuống cho ông hay rằng ông đã tới kỳ hưu-trí. Được tin ấy ông lấy làm buồn bực chẳng cùng, ông liền trở về nhà tư, nằm ngữa nơi ghế dài, thở ra thở vào, mặt mày buồn xo, miệng không nhích mép. Bà phủ thấy vậy hỏi rằng: « Hôm nay có việc chi mà tôi coi ý ông buồn dữ vậy? » Quan phủ buồn quá không muốn nói, ngặt bà cứ theo hỏi hoài nên ông phải nói rằng: « Giấy lại rồi, tôi bị hưu-trí rồi, mụ cứ hỏi hoài.
— Mình làm quan hễ tuổi lớn rồi, ngày tháng đủ rồi thì phải hưu-trí, ấy là luật nước xưa nay, tưởng cũng là lẽ thường, sao ông lại buồn?
— Không buồn sao được, mình đương làm quan phải đến! Không tội lỗi gì! Khi không, khi khổng, khi khồng, vậy rồi họ bắt mình hưu trí; không đáng buồn sao?
— Tánh ông sao kỳ quá! khác hơn ai hết!
— Sao lại kỳ? Sao lại khác??
— Ông còn ham danh chác lợi quá! Vã bấy lâu ông những mảng xăm xuối nơi hoạn đồ, lo bề tấn thối, sợ việc nên hư nhựt dạ tân cần, lao thân tiêu tứ; nay ông tuổi đã trộng rồi mà được giấy về hưu; thì từ đây ông sẽ được hứng chí duỡng nhàn, vô câu vô thúc, vô lự vô ưu, tiêu diêu tự tại; chẳng tốt lắm sao?
— Mụ ỷ mụ biết ba cái chữ nho rồi mụ cứ chưng chữ nho với tôi hoài. Mụ nghĩ lại mụ coi, hễ mình về hưu đây thì mình đã hết quyền rồi, không ai sợ mình nữa, làng tổng họ cũng hết tới lui với mình. Vậy không buồn sao?
— Tôi nói ra thì tôi e mang lỗi với ông, chớ thiệt tánh ông khó quá, tôi có nói phải cho lắm ông cũng nói tôi nghịch ý. Tự cổ chí kim, tự Âu chí Á, đời nào cũng vậy, mà nước nào cũng vậy, ai ai cũng như nấy, chớ ai lại sợ ai; sợ là sợ phải chớ ai đi sợ quấy, sợ đều công-lý, chớ ai sợ lẽ cường-quyền; giã như ông làm một ông quan, mà trên vì nước dưới vì dân, lợi dụng lấy cái quyền của mình mà chấn chỉnh những sự lợi ích cho dân, làm làm sao cho dân hưng phú thứ, quốc tấn văn-minh; thì cái quyền ấy người ta mới sợ. Chớ như mấy cậu ra làm quan rồi mà không biết đều liêm-sĩ, không giữ cái tư-cách của mình, cứ đem cái quyền ra mà khổ khắc lương-dân, chuyện chết nói sống, chuyện sống nói chết, chuyện không nói có, chuyện có nói không, mỗi mỗi cũng cậy cái quyền của mình mà sâu dân mọt nước. Cái quyền như thế ai lại khốn gì mà sợ.
Bỡi vậy cho nên, dầu làm quan cũng vậy, mà không làm quan cũng vậy, hễ người mà có chí khí quân-tử trượng-phu, dám đem mình mà hi-sanh cho quốc-gia xã-hội, thì chẳng nói một quận hay là một tĩnh mà thôi, toàn thể quốc-dân cũng phải tôn sùng kính sợ. Chớ những người tham-lam dối giã, không tu ố, chẳng nghĩa nhân, thì dầu cho có ở nhà lầu, có mão cao áo dài, lên xe xuống ngựa đi nữa, thì người ta cũng cho là bọn lục lục dung thường, túi cơm giá áo, chớ ai lại sợ bao giờ? Chí như nay mà mình đã hồi hưu dưỡng lão rồi, dầu cho làng với tổng có tới cùng không lại hà ích?
— Cha chã! Mụ nầy là đờn-bà mà mụ nói sao tôi nghe hơi cách-mạng quá chớ phải chơi gì! Thôi, dẹp mụ đi nà! »
Bà phủ thấy ông đà đổ quạu, nên bà cũng chẳng nói nữa làm chi, bèn làm thinh bỏ đi vào nhà trong mà nói cho Mộ-Trinh với Lệ-Dung hay việc ấy.
Nghe được tin như vậy, Lệ-Dung rất mừng thầm, bèn chờ lúc đêm vắn canh khuya, vỗ vai Mộ-Trinh, miệng cười chúm-chím mà nói rằng: « Nầy chị, em xin chúc mừng cho chị đó ».
Từ-mộ-Trinh nghe nói ngạt nhiên, bèn hỏi rằng: « Chuyện chi mà em mừng cho chị?
— Chuyện bà nói với chị em mình hồi trưa đó, ông được giấy về hưu rồi.
— Ậy! cha chị được giấy hưu-trí, sao em lại mừng cho chị là mừng nỗi gì?
— Chị quên rồi hay sao? Nhơn-tình buổi nầy họ tham lắm, cái sự tham của họ, nói chẳng hay cùng; kẻ có tiền thì họ tham thêm quyền-tước, kẻ có quyền-tước thì lại tham tấm bạc đồng tiền; còn những bọn đăng đồ tử-đệ là bọn làng-chơi, nó lại tham về đều sắc-dục. Ông huyện hàm Ngọt mà muốn làm suôi với ông đây là ổng thấy ông có quyền, còn công-tử Chanh mà muốn chị đó là hắn thấy chị có sắc. Nay vì chị đau lâu, sắc chị đã sụy, còn ông hưu-trí thì quyền ông cũng hết. Như thế thì bên nhà đó họ còn cưới chị mà làm gì? Em chắc rồi đây, bề nào họ cũng làm lơ, thế thì cái tình của chị với chàng Đỗ sau nầy cũng còn có chỗ hi vọng được, sở dĩ có bấy nhiêu đó nên em mới mừng chớ.
— Nầy em ơi! Nếu được như lời em nói đó, ấy là hạnh phước của chị đa em; song việc nầy thì chị em mình biết mà thôi, cũng nên để vậy mà coi, chớ em đừng có nói với ai, nếu cha chị mà hay được thì ắt ghét em, mà hễ người không ưa em rồi, thì chị em mình không dễ gì mà gần nhau được nữa đa em. »
Qua bữa sau quan phủ nghe tin có quan huyện Cường ở Saigon xuống thế cho ông, đã tới tĩnh rồi, ngày mai sẽ đáo nhậm. Hay tin có người xuống thế rồi, ông bèn bảo bà và Trần-lệ-Dung coi thu xếp việc nhà và sai người đi mướn ghe mướn bạn, chở hết đồ đạc xuống ghe cho sẵn. Kế thấy có ít ông hương-chức sở tại đến thăm, làm tuồng quyến luyến gọi là, trầu nước một hồi rồi về ráo.
Sáng ra ngày kế đó, vào lối 8 giờ, quan huyện Cường đi ô-tô xuống tới; hai đàng giao lãnh các việc trong quận xong xuôi. Quan phủ bèn bảo bà ở lại đi ghe với Trần-lệ-Dung mà coi chừng diều đở Mộ-Trinh, kẻo nàng còn yếu lắm. Ông ở lại một mình đi xe lên tĩnh, từ giả anh em rồi mới đi xe lửa lên Saigon, rồi cũng đi xe lửa thẳng về Biên-hòa đặng coi chỉnh đốn cữa nhà mà chờ gia quyến.
Cách ít ngày ghe bà về tới, hối bạn dọn đồ lên nhà, sắp đặt đâu đó yên rồi, mới trả tiền và cho ghe về Mỷ. Từ đây quan phủ chẳng có lo chi hơn là lo thuốc thang cho con mau mạnh. Còn Từ-mộ-Trinh, nay tuy trong mình tinh-thần đã bình phục được nhiều, song còn lo sợ bên trai, nếu hay tin mình mạnh mà cưới gắp đi chăng, nên nàng cũng cứ giả đau luôn cho qua ngày tháng.
Còn chàng Đỗ-khắc-Xương ở tại Hà-nội với cha hơn trót tháng, lo nổi mẹ ở nhà hiêu quạnh một mình, bèn bàn luận với cha, tính từ giã ông phán đặng xuống Hãi-phòng, để tháp tùng tàu khói mà về đường biển, vì chàng ta có coi nhựt-báo, biết còn có vài ngày thì tàu sẽ lấy neo, bèn tỏ lại cho ông phán hay; ông phán cũng chẳng dám cầm, bèn lấy ra 2 trăm đồng bạc với một láng quế Thanh, trao cho Đỗ-khắc-Xương bảo cất lấy đem về, để lo thuốc thang mà bổ dưỡng cho ông mau mạnh. Hai cha con Đỗ-khắc-Xương đều lấy làm cảm tình ông phán chẳng cùng.
Sáng ra bữa sau, hai cha con bèn tạ từ ông Phán rồi hối thằng Hành xách đồ hành-lý ra nhà ga mua giấy xe lửa đi xuống Hải-phòng. Ông phán Hoàng-hữu-Tâm cũng theo đưa xuống tới Hải-phòng và đưa thẳng xuống tận bến tàu, hai đàng đều quyến luyến nhau, kẻ ở Bắc người về Nam, tình dang-diếu nói sao cho xiết.
Khi tàu gần lấy neo rồi anh em mới đành dứt tình kẻ ở người đi, đinh ninh trân trọng vài lời rồi mới bắt tay nhau mà từ biệt.
Ông Phán thì trở về Hà-nội, còn cha con Đỗ-khắc-Xương với thằng Hành thì lại ngồi tàu mà trở lại Nam-kỳ, may nhờ gió thuận sóng êm, tàu chạy thẳng thét 3 đêm 3 ngày thì đã tới Saigon; cha con liền dắc nhau lên bờ, kêu xe chạy qua chợ-mới Saigon vào nhà Lữ-quán nghỉ ngơi mà chờ xe lửa.
Qua 4 giờ chiều, cha con liền kêu thằng Hành sắm sửa, rồi xách hành-lý ra ga, mua giấy lên xe, đúng 4 giờ rưỡi thì xe phát chạy; xuống tới Mỹ-tho là 6 giờ rưỡi tối, rồi lại phải mướn một cái xe hai bánh, cha con đề huề dắc nhau lên xe, về tới nhà thì đã gần 10 giờ. Bà Đoàn-Thị thấy chồng con về tới thì mừng rở chẳng cùng, liền hối con Hoa đi nấu nước, rồi bà hỏi thăm các việc lăng-xăng, xóm diềng ai nấy nghe tin ông về cũng đều rủ nhau tới mừng, chuyện vản rùm nhà, ấy là lẽ tự nhiên, đâu đâu cũng vậy. Nhơn thấy ông trong mình còn yếu, phần thì đi đường biển giã sóng gió xa xuôi; cho nên trầu nước một hồi rồi rủ nhau ra về mà để cho ông an nghỉ.
Cách ít ngày nhơn lúc rảnh rang ông bèn hỏi lại việc nhà, nghe nói tới việc em ruột của mình là Đỗ-thị-Bườn với em rể là Phùng-văn-Chỉnh, cả hai vợ chồng đều đối đãi với con mình một cách rất gắt gao khắc bạc như vậy, thì ông tức giận tràng hông, bèn nói lớn lên rằng: « Thiệt vợ chồng con Bườn với thằng Chỉnh nầy quả là loài cầm thú, chẳng có chút lương-tâm, chúng nó trọng đồng tiền hơn là cốt nhục........ » Ông nói mới tới đó, thình lình máu đâu trong miệng trào ra hơn cả tô, làm cho ông té xỉu, tay chơn lạnh ngắt, bất tỉnh nhơn sự. Bà Đoàn-thị với Đỗ-khắc-Xương kinh hồn hoãng vía, lật đật kêu thằng Hành với con Hoa xúm lại khiêng ông vào giường, lấy sâm quế đổ cho ông uống, rồi hối thằng Hành mướn xe đi rước ông nhiêu Lân về coi mạch hốt thuốc cho ông.
Ông nhờ có uống được sâm quế vào, cho nên trong giây phút tay chơn ấm đều rồi ông cũng lần lần tỉnh lại, song ông cứ lấy hai tay vuốt ngực và lắt đầu hoài chớ chưa nói chi được hết. Bà Đoàn-thị cứ ngồi bên cạnh mà vuốt ngực cho ông và kiếm lời an ủi khuyên giải ông rằng: « Xin ông đừng có giận nữa làm chi, có giận cho lắm thì lại thiệt mình, chớ chẳng ích gì, nó có ở vậy, để cho trời xét xem cho nó. »
Còn Đỗ-khắc-Xương thì xăng-văng lo sợ, chạy ra chạy vào mà trông chừng ông thầy thuốc. Một chặp lâu, nghe có tiếng xe ngừng ngoài cữa, Đỗ-khắc-Xương định chắc là xe của thằng Hành đi rước thầy thuốc đã về, bèn lật đật chạy ra, thấy ông nhiêu Lân đã bước xuống xe, tay ông cầm cây dù, ngoài trắng trong xanh, đầu ông bịch khăn đen mà khăn đóng, mình ông bận một cái áo xuyến đen, dưới ông bận cái quần nhiểu trắng nhùn-nhục, chơn ông đi đôi giày hàm-ếch da láng, gió thổi phê cái vạc áo trước của ông lên, thấy ông có mang một cái hồ-bao kiểu xưa với buộc một sợi dây lưng màu lông két; bàn tay trái của ông để móng đủ cả 5 ngón rất dài, ông dở lên dở xuống, mấy móng tay khua nhau nghe lắc-cắc. Ông nhiêu ngoài ngỏ lơn xơn đi vào, Đỗ-khắc-Xương liền chắp tay mà chào rồi mời ông đi thẳng vào nhà hối con Hoa rót trà đem ra cho ông xơi và nói rằng: « Xin bác trầu nước rồi vào coi giùm mạch cho cha tôi coi thể nào. » Ông nhiêu Lân gặt đầu, xơi nước một hồi rồi đứng dậy đi theo Khắc-Xương vào phòng mà coi mạch. Ông nhiêu coi đủ hai tay, lại còn quang sắc diện một hồi nữa rồi mới đứng dậy ra ngoài, ngồi lại chỗ củ, lấy thuốc giấy ra, và vấn thuốc và nói rằng: « Bịnh của anh đây nguy lắm, lục mạch đều suy, bác sợ cứu không được. » Đỗ-khắc-Xương nghe nói nước mắt rưng rưng rồi nói rằng: « Xin bác ráng hốt giùm cho cha tôi ít thang, dầu hao tốn bao nhiêu tôi cũng không nệ, miễn làm sao cho cha tôi mạnh được thì thôi. » Ông nhiêu Lân lại nói: « Bịnh của anh đây, phải có sâm quế cho thiệt tốt, và địa cũng cho được địa cữu chưng cữu sái thì mới dám dùng, nếu dùng những địa chưng không đúng phép như của mấy ông thầy lôi thôi đó vậy, thì không những là đã không hay ho gì, mà nó lại còn làm cho nê tỳ thêm mà phải khốn; huống chi bịnh của anh là bịnh thùy nguy, nếu nó sanh thêm một chứng nê tỳ nữa thì còn chi mà kể; sẵn ở nhà bác cũng còn để dành được ít lượng, để phòng trị mấy bịnh nguy, mới hôm trước đây có quan Đốc-phủ-Dỏi ở trên Cái-bè cũng bị lạc huyết, thầy thuốc họ biết nhà bác có để địa tốt, họ điềm chỉ nên bà Đốc-phủ có cho người đi ô-tô xuống này bác hết 4 lượng mà ba mươi hai đồng. Nay còn đâu lối chừng vài ba luợng gì đó, cũng đủ dùng mà trị bịnh của anh; duy có quế bây giờ đây thiệt không biết ai có quế tốt mà này. » Đỗ-khắc-Xương nói: « Việc quế xin bác chớ lo, vì hôm tôi ra Bắc mà rước cha tôi đó, thì bác Phán của tôi ở ngoải thấy cha tôi thường hay ươn yếu, nên có cho tôi một láng quế Thanh thiệt tốt, dặn tôi đem về để dành cho cha tôi uống. » Và nói và chạy vào mở rương lấy láng quế đem ra trao cho ông nhiêu Lân và nói rằng: « Đây bác, hồi cha tôi xỉu đó, tôi có cạo hết một chút mà cho cha tôi uống, nên cha tôi mới tỉnh lại đó đa. » Ông nhiêu Lân cầm láng quế coi đi coi lại một hồi rồi tỏ ý mừng mà nói rằng: « May phước quá! ở đâu lại có quế sẵn như vầy thiệt cũng là may, quế nầy thiệt là quế Thanh đó đa cháu à! Vậy chớ bấy nhiêu đây bây giờ mà đi này họ một trăm đồng cũng không được nữa đa cháu. Được đa, vậy cháu đem vào gói cất cho tữ-tế nghé! À quên! Để bác cắt ra sẵn một chút cho cháu biết, đặng sau có liệu chừng mà cắt theo. » Nói rồi liền lấy dao bén cắt ra một miếng, đưa cho Khắc-Xương mà dặn rằng: « Nầy cháu, mỗi bữa cháu cũng cắt độ chừng bằng miếng nầy đây vậy, rồi cạo ra để trong cái chén nhỏ, đổ nước vào mà chưng riêng nó ra, hễ thuốc sắc tới rồi thì trúc nó vô hòa với thuốc mà cho anh uống; sâm cũng phải làm như vậy, chớ đừng có sắc chung với thuốc không tốt đa. Thôi, cháu nói với chị, để cho bác kiếu bác về, còn thân-chủ họ chờ bác ở bên nhà cũng bộn; thằng Hành đâu? Đi theo ông qua bên nhà mà lấy thuốc con. Thôi, bác về nghe cháu! »
Ông nhiêu Lân ra về, Đỗ-khắc-Xương theo đưa ông ra xe; ông nhiêu bèn nói nhỏ với Khắc-Xương rằng: « Nầy cháu, bịnh của anh nguy lắm đa cháu, nhưng mà nhờ có địa tốt quế tốt; nhờ Tổ, bác cũng ráng làm thử ít thang coi, như anh chịu được một mùa đông nầy, hễ bước qua xuân thì anh mạnh được, nếu không thì nội trong mùa đông tới đây, bác sợ anh qua không khỏi đa cháu; nhưng bác thấy cháu nói lắm, nên bác cũng ráng cho hết tình, nhờ trời chớ biết sao bây giờ. Thôi, cháu đi vô, để cho bác về kẻo thân-chủ họ đợi. »
Ông nhiêu Lân về rồi, Đỗ-khắc-Xương trở vào, thấy cha nằm thiêm-thiếp thì nước mắt chảy ra ròng ròng. Bà Đoàn-thị thấy vậy cũng bệu-bạo mà hỏi con rằng: « Sao con? Anh nhiêu ảnh coi mạch cho cha con rồi ảnh nói sao đó? Nặng hay nhẹ vậy con? » Đỗ-khắc-Xương vì sợ mẹ rầu nên không nói thiệt, liền kiếm lời mà nói trớ cho mẹ an lòng, bèn nói rằng: « Thưa má, không hề chi đâu, bác nhiêu bác nói, tại cha con đau ở ngoài Bắc xưa rày, sức cũng đà yếu kế lại bị đi tàu từ Bắc vào Nam, xa xuôi biển giả; về nhà nghỉ chưa được mấy ngày, kế bị việc xúc tâm mà giận quá nư nên mới ra như vậy; sẵn có sâm tốt quế tốt, bác hốt một thang cho cha con tỉnh lại, rồi bác hốt bổ luôn thêm ít thang thì mạnh, chớ không sao đâu, xin má chớ rầu mà sanh bịnh hoạn. » Hai mẹ con còn đương bàn luận với nhau, kế thấy thằng Hành đã đam thuốc về, Đoàn-thị không dám phú thát cho con Hoa, vì e nó dại khờ mà sắc không đuợc kỷ-lưởng, nên bà phải bổn thân đi sắc thuốc cho ông; sâm, quế cũng chưng riêng theo như lời ông nhiêu đã dặn, khi thuốc tới rồi, bà bèn hòa hai món kia vô, chờ cho nguội bớt rồi mói đem vào cho ông uống.
Mà ông nhiêu Lân hốt thuốc thiệt tài, cho nên ông Đỗ uống thuốc hồi đâu hôm, qua lối canh ba ông đà tỉnh lại và than đói bụng, bà bèn đi lấy cháo đã nấu sẵn đem lại cho ông ăn. Ông ăn được ít muổng cháo vô rồi tinh-thần ông coi đã có hơi khỏe khoắn. Rồi từ đó mỗi ngày cũng cứ hốt thuốc luôn luôn, tuy ông nhẹ vậy chớ chưa đi vô đi ra chi được.
Một ngày kia Đỗ-thị-Bườn, nghe tin anh mình đã về mà đau, nên dùng dịp đi đòi nợ mà ghé thăm coi bịnh anh nặng nhẹ. Nguyên Đỗ-khắc-Xương biết cha mình mà thổ-huyết hôm nọ đó cũng vì giận cô mình, nếu nay mà thấy mặt cô mình, thì ắt là khốn nữa. Bèn kiếm chuyện mà nói sướt đặng gạt cô mình rằng: « Cha tôi bị bịnh thổ-huyết, nên cứ mệt hoài, ông thầy thuốc ổng dặn đừng cho ai vô, để cho cha tôi tịnh dưỡng, nếu có ai vào ra hơi lạ thì nó bắt mệt mà làm xung khó lắm, vậy xin cô chớ có vô đó làm chi, để ráng ít ngày cho cha tôi nhẹ bớt đã. » Đỗ-thị-Bườn ngồi đó xớ rớ một hồi rồi bỏ ra về mất.
Cách ít ngày Đỗ-khắc-Xương nhơn thấy bịnh cha mình chưa thiệt mạnh, song coi thế cũng khoẻ lần, bèn đi thăm lối xóm mà tạ ơn chiếu cố mẹ mình trong cơn mình đi khỏi; rồi nhơn dịp mới hỏi thăm qua nàng Từ-mộ-Trinh thì nghe người ta nói nàng ấy vẩn còn đau hoài chớ chưa thiệt mạnh; còn quan phủ thì đã được giấy về hưu, nên ông đã mướn ghe chở gia-quyến và đồ đạc mà đi hết rồi; nghe nói ông về đâu trên Biên-hòa là xứ sở của ông. Đỗ-khắc-Xương nghe nói trong lòng ngùi ngùi, lo vì đường sá xa xuôi, từ đây góc biển ven tròi, khó nổi thơ nhàn tin cá, vì chàng có nghe mẹ chàng nói rằng trong lúc chàng đi khỏi, ở nhà mẹ con bà phủ vẩn có châu cấp cho bà nhiều ít; nên chàng lập tâm đã sẵn, chờ cho cha mình thiệt mạnh rồi sẽ tìm lên Biên-hòa, trước là thừa dịp để tạ ơn bà, sau là dọ thăm tin tức của nàng coi ra thể nào cho biết.
Chẳng dè qua lối tháng mười một, nhằm tiếc trọng-đông, bịnh ông trở nặng quả như lời ông nhiêu Lân đã nói trước với chàng; càng ngày coi càng nặng, thuốc uống như không, chừng ấy ông nhiêu Lân cũng thúc thủ. Đỗ-khắc-Xương vì nóng ruột thương cha, nên lo rưóc đã nhiều thầy, mà ông nào cũng chạy hết.
Qua đến rầm tháng chạp, vào lối canh ba, ông liệu biết trong mình, thế chịu không kham, bèn kêu vợ con vào tận bên giường, trối lại một đôi lòi, rồi nhắm mắt theo ông theo bà mà về cỏi Phật.
Lúc bấy giờ, bà Đoàn-thị nhào lăn ôm chồng mà khóc, còn Đỗ-khắc-Xương thì lụy ngọc dầm dề: hai đứa ở trong nhà cũng khóc kể rùm nhà, lối xóm hay được chạy tới thấy vậy cũng đều rơi lụy.
Sáng ra bữa sau xóm làng tựu tới rất đông, kẻ lo mua món nầy, người lo sắm vật kia, để tẩn liệm ông cho tử tế.
Trưa lại ngày ấy vợ chồng Tám-Chỉnh với Thị-Bườn cũng có xuống chịu tang, khóc kể nghêu ngao, lại có đem một con heo mà tế nữa.
(Nguyên vợ chồng Đỗ-thị-Bườn giàu có, nay anh ruột mình chết, không lẽ mà làm ngơ, cho nên bề ngoài cũng phải đem heo tế lễ mà che miệng thế gian, chớ bề trong đà thót ruột. — Chí như ông Đỗ khắc-Thới, thoản như vong-hồn ông mà có linh-thiên, thì đồ của vợ chồng Thị-Bườn đem tế ông đây, chắc là ông cũng mữa, chớ ông đương có thèm ăn đâu mà tế.)
Khi tống táng ông xong rồi thì tiền bạc còn lại chẳng bao nhiêu. Đỗ-khắc-Xương tính để làm tuần bá-nhựt cho cha mình rồi, sẽ thưa với mẹ đặng lên Saigon kiếm việc làm ăn mà nuôi mẹ.
Lần hồi ngày tháng như thoi, thấm thoát mà đã tới kỳ bá-nhựt, tuần tự xong rồi; Đỗ khắc Xương vừa muốn thưa với mẹ đặng lên Saigon để kiếm việc làm. Chẳng dè Đoàn-thị, một là lo nỗi nhà, hai là bị thức-thối với ông trong lúc ông đau, ba là đến khi ông bất hạnh mà qua đời, bà những mảng buồn rầu thương nhớ ông, cho nên bà cũng đau hoài. Đỗ-khắc-Xương là con chí hiếu thấy mẹ yếu quá, không dám bỏ mà đi xa, nên phải bó tay chịu nghèo ở nhà mà nuôi mẹ
Phàm người ở đời, đã biết rằng có nên có hư, có suy có thạnh, có hồi điên đão, có lúc vinh hoa thì mặc dầu; nhưng vậy mà, Tạo vật cũng chưa chịu để êm đâu, đương trong buổi lưu-ly điên-bái, mà lại còn xen cái may cái rủi vào trong, rồi xô qua đẩy lại, kéo tới giựt lui, làm như trái hí-cầu (balle) nhồi lên đá xuống, cho lăn cho lóc, cho nhuyễn cho nhừ; cho tàn cho mạt, cho hại cho tiêu; chịu đuợc thì chiu, không chịu được thì hư, năm lừa mười lọc, cho đến kiếp đi rồi; nếu có đủ chí đủ sức, có rắn gan mà chịu nổi với người thì người mới nói tay cho mà thở. Bỡi vậy cho nên Đỗ-khắc-Xương đương buổi điên-nguy mà cũng còn gặp được một chút may. Ngày kia đương buổi lo buồn, bổng đâu lại có một người quen, tên là Nguyễn-quốc-Hưng đương làm việc tại sở Trường-tiền trên tĩnh, nhơn ngày chúa-nhựt đi chơi, tiện đường ghé thăm Đỗ-khắc-Xương; anh em gặp nhau mừng rở chuyện vãn một hồi, rồi nói qua việc làm ăn. Đỗ-khắc-Xương nhơn than vì vận nhà điên đão, cha mới mất, mẹ lại đau; nên phải ở nhà mà chịu nghèo, chớ chưa dám đi đâu cho được. Nguyễn-quốc-Hưng noi: « Bạn nói vậy cũng phải, mình là phận làm con, cha già mẹ yếu, ai dám bỏ mà đi đâu. Nhưng mà đi xa kìa, chớ như gần đây thì có hại gì.
— Gần đây có việc gì đâu mà làm được?
— Nè bạn! Tại sở tôi làm, có cần dùng một người thơ-ký, lương mỗi tháng chừng lối 30 đồng, mà tuồng chữ viết cho hay mới được; hổm nay đã có hai ba người đến xin, mà ngặt tuồng chữ viết dỡ quá, ông sếp (chef) ổng chê; tôi nhắm bạn đây chắc là xin được, vì tôi biết tuồng chữ của bạn.
— Bây giờ mình phải làm sao mà xin?
— Thì cứ làm đơn đưa vô cho ông sếp mà xin vậy chớ sao! Mà đều, bạn có làm đơn phải gò, viết chữ cho hay nó nghe hông. Bạn cứ làm đơn đi, rồi sáng mai thứ hai đem vô xin đại đi, tôi sẽ nói với ông sếp tôi rằng tôi có quen biết với bạn thì chắc là ổng cho liền, vì lúc nầy nhiều công việc quá, nên người ta cần dùng lắm.
— Tôi rất cám ơn anh, vậy để sáng mai tôi lên, nhờ anh tiếng dẩn giùm.
— Dữ hông! chuyện anh em, một chút một đỉnh chớ giống gì đó sao! Khó giúp nhau mới thảo, giàu tư trợ ai màng. Thôi, để cho tôi kiếu tôi về kẻo tối, sáng mai bạn cứ việc đem đơn lên đi, đừng có để trễ đây rồi có người khác họ xin trước mà mình hỏng đa nghe hông! » Nguyễn-quốc-Hưng căn dặn đôi ba lần rồi mới đứng dậy từ giã ra về.
Đêm ấy Đỗ-khắc-Xương thưa lại cho mẹ hay, rồi lo viết đơn để sẵn, khuya lại thức dậy sớm kêu thằng Hành dặn dò xem sóc việc nhà rồi sửa soạn ra đi.
Lên đến nơi thì đúng tám giờ, đi thẳng vào sở Trường-tiền. Nguyễn-quốc-Hưng ngó thấy lật đật chạy ra rưóc lấy cái đơn, dặn Khắc-Xương đứng đó mà chờ, rồi cầm cái đơn đem vào trao cho ông Sếp và nói chi với ông, ở ngoài xa nghe không rõ; kế thấy ông Sếp coi đơn rồi gặt đầu và bảo kêu Khắc-Xương vào mà hỏi rằng: « Thuở nay thầy có làm việc đâu chưa?
— Thưa ông chưa, tôi chưa có làm việc ở đâu hết.
— Sao vậy?
— Thưa ông vì từ lúc tôi thôi học rồi về nhà cha tôi đau hoài, tôi mắc lo săn sóc thuốc men cho cha tôi và chăm lo việc nhà, nên không có đi làm việc đâu hết đuợc.
— Nay cha thầy đã mạnh rồi phải không?
— Thưa không, cha tôi mới mất, tôi còn đương để tang cho cha tôi đây (Và nói và chỉ sợi vãi đen bao trên cái nón).
— Tuồng chữ viết đơn đây phải của thầy viết hay không?
— Thưa phải, chánh là tay tôi viết.
— Đâu nà, thầy viết lại ít hàng cho tôi coi thữ. (Và nói và đưa giấy viết cho Khắc-Xương). Khắc-Xương ngồi lại vừa viết được vài ba hàng chi đó, thì nghe ông Sếp khen rằng: « Tốt lắm! Thôi, đủ rồi, khỏi viết nữa; vậy thì thầy cứ làm việc đây với tôi, mỗi tháng tôi sẽ trả cho thầy ba chục đồng, ví bằng mà thầy làm việc tử tế siêng năng, thì tôi sẽ tăng thêm lương bổng. »
Đỗ-khắc-Xương tạ ơn, rồi bước lại bàn, chỗ ông Sếp đã chỉ cho đó ngồi mà làm việc. Sánh cái sức học thì Khắc-Xương có lấn hơn Quốc-Hưng, ngặt vì mới vào, cho nên công việc chưa được thạo, việc gì cũng nhờ có Quốc-Hưng ân cần chỉ bảo giùm cho. Trưa lại tan hầu, thầy Hưng cũng mời về nhà ăn cơm với thầy. Khi về tới nhà thầy Hưng bèn kêu vợ mà nói rằng: « Nè mình, thầy hai đây là anh em bạn học với tôi, thẩy ở dưới Chợ-gạo đây, tội nghiệp quá, cũng là con nhà giàu có, mà nay vận nhà suy sụp, rủi bác trai lại mới mất, còn bác gái lại đau hoài; thẩy mới xin được vô làm một chỗ với tôi đây; mình dọn cơm ra cho thẩy ăn với tôi luôn thể. » Cô thông Hưng cũng là người tử-tế, cho nên trong lúc ăn cơm, có hỏi Khắc-Xương rằng: « Thầy Hai có bà-con quen lớn với ai tại đây không?
— Tôi có một bà cô ruột, ở phía thân trong chợ đây một đổi, nhà cổ cũng có ăn, mà hai vợ chồng kỳ quá, nên tôi ít hay tới lui cho lắm.
— Ối! Thầy hai ôi! Nhơn-tình buổi nầy khó lắm, họ coi đồng tiền trọng hơn giống gì hết thảy, Thôi, vợ chồng tôi cũng son vá, không có con cái chi, thầy ở đây ăn cơm tháng với vợ chồng tôi cũng được; đi làm thời đi với nhau, có về thì về với nhau như vậy cũng là vui.
— Anh chị có lòng thương em út như vậy, thiệt tôi rất cám ơn, vậy để chiều nay tôi phải về dưới nhà thưa lại cho mẹ tôi hay, và lấy quần áo thêm để đỗi thay luôn thể, rồi sáng mai tôi sẽ trở lên. »
Chiều lại năm giờ tan hầu Khắc-Xương cũng về nhà thầy Hưng, ăn hối hả ba hột cơm rồi lật đật tuốc về Chợ-gạo, tỏ hết đầu đuôi các việc lại cho mẹ hay. Đoàn-thị nghe con đã có sở làm, tuy là lương bổng không bao nhiêu, song cũng đủ mà đở ngặt trong cơn khốn đốn, nên bà cũng có bụng mừng.
Từ đó Đỗ-khắc-Xương an lòng làm việc tại sở Trường-tiền, hễ chiều thứ bảy thì về nhà thăm mẹ, rồi khuya thứ hai thì lại trở lên, cứ giữ bổn phận mà làm, tuần nào cũng vậy.
Đỗ-khắc-Xương tuy là làm việc mà chẳng hề lảng phí một đồng, hế mỗi tháng lãnh lương rồi thì mua chút đỉnh trà bánh đem về cho mẹ vậy thôi; còn lại bao nhiêu cũng đều giao hết cho mẹ để phòng thuốc men và xây dụng việc nhà.
Bữa nọ cũng nhằm ngày thứ bảy, Khắc-Xương về nhà, thấy mẹ mặt buồn dả-dượi, không được vui-vẽ như mội lần thì sanh lòng lo sợ, liền vội vã hỏi rằng: « Má đau hay sao?
— Không, má có đau gì đâu con, đều cách hơn mươi bữa rày, giượng ba con, nó cho đứa ở của nó xuống đây, nói rằng tiền của nó đã tới kỳ rồi, bảo phải đam bạc lên cho nó; vì sợ con buồn nên má chưa kịp nói cho con hay; cách vài bữa sau nó lại sai xuống nữa, mà chuyến nầy trong thế cô hay giượng con có xúi nó hay sao, cho nên nó nhiếc mắng nhiều đều hổn ẩu quá! Tuy vậy mà má cũng chưa dám nói với con; té ra hồi trưa nầy, chánh mình cô ba con là con Bườn, nó đi xe hai bánh xuống đây, nó nặng nhẹ nhiều lời rất nên khó chịu, mà nó còn hâm để mướn Truởng-tòa xuống đây bắt má mà giam thâu. Thiệt má chẳng biết tính làm sao, cực chẳng đã bữa nay má phải nói cho con biết. » Đỗ-khắc-Xương nghe nói tức giận vô cùng.
Đêm ấy trằn-trọc một mình, suy tới nghĩ lui, nằm không an giấc; nhơn nghĩ cho ông giượng cũng chẳng lạ gì hơn người dưng, thì chẳng nói làm chi, chớ như cô của mình, rõ ràng là cô ruột, mà cổ cũng coi đồng tiền tấm bạc trọng hơn cốt nhục thân tình, nếu ta mà chẳng tính cho kham. để cổ kiện và lãnh án giao cho Trưởng-tòa, vạn nhứt mà họ giam thâu tới mẹ ta, thì ắt là ta không sống được. Bằng mà muốn tính cho kham, thì cái số ba trăm mấy chục đồng bạc vốn và lời đây, cũng chẳng dễ gì mà lo cho kịp. Thôi, muốn cho êm chuyện thì chi bằng ta tính giao phứt cái nhà và miếng vườn nầy cho vợ chồng cổ cho rồi, thì chắc là vợ chồng cổ mới vừa lòng đẹp ý. Đã biết cái sự-nghiệp nầy tuy là của tiên-nhơn ta để lại, lẽ thì ta phải giữ-gìn, nay mà cô ta lại bức sách và khuẩn-nhục mẹ con ta như vầy, thì ta tưởng khi tiên-nhơn ta ở dưới suối-vàng cũng xét rõ lòng ta. » Đỗ-khắc-Xương nghĩ trọn một đêm, kế ấy là kế cùng; chớ chẳng còn có phương nào cho hay hơn nữa.
Sáng ra bữa sau, Đỗ-khắc-Xương bèn đem những việc mình tính ban đêm mà tỏ lại cho mẹ nghe; Đoàn-thị nghe nói khóc ròng Đỗ-khắc-Xương bèn kiếm lời khuyên giãi cho mẹ nghe, lại nói: « Nay cổ đã cố tình, quyết đoạt cho được mới nghe, nếu mình còn dụ-dự mà không tính cho rồi, thì vợ chồng cổ ắt sai sắp đày tớ xuống đây mà nhục mạ mẹ con ta, lại còn thưa kiện tới Tòa, rồi bề nào cũng chẳng khỏi bị thi hành phát mãi, chớ chẳng ích gì, chi bằng mình tính trước cho xong. » Đoàn-thị thấy con nói vậy, thì cũng không biết tính làm sao, chỉ có khóc ròng, rồi bảo con cứ tính thế nào cho êm thì tính.
Qua bữa thứ hai, khi tan hầu chiều. Đỗ-khắc-Xương về nhà thầy Hưng cơm nước xong xuôi, rồi đi thẳng vô nhà bà cô mà tỏ việc của mẹ con mình tính giao cả cái nhà và miếng vườn mà trừ nợ. Vợ chồng Tám-Chỉnh với Thị-Bườn nghe nói thì trong lòng đà mừng húm, song cũng còn kiếm chuyện mà nói hơi rằng: « Thiệt cực chẳng đã, vì là chị hai với cháu, bà con cật ruột chẳng phải người nào, nên cô cũng không biết nói làm sao, chớ như người ta thì không được; vì lúc nầy cô cần dùng đồng tiền lắm, ba bốn trăm đồng bạc của cháu thiếu đó, giá để mà cho ra năm ba chủ tiền góp, thì mỗi tháng cũng được trót trăm ngoài đồng bạc lời. Chớ bây giờ để đem đồng bạc ra mà mua đất mua nhà thì đồng bạc ấy là đồng bạc chết, nó nằm cứng đó trơ trơ, chớ có ích gì. » Đỗ-khắc-Xương nghe nói trong lòng cười thầm. Thị-Bườn lại nói tiếp: « Thôi, cháu về nói lại với chị hai, để mai ổng đi xuống dưới rồi sẽ mời làng mà làm tờ làm giấy cho rồi đi.
— Mai đi sao được.
— Sao vậy?
— Vì ngày mai nầy là ngày thứ ba, rồi mải cho đến ngày thứ bảy thì tôi mắt đi làm việc, xin để đến ngày chúa-nhựt rồi giượng sẽ xuống, vì ngày ấy mới có tôi ở nhà; song xin giượng xuống cho sớm, tôi sẽ mời hương-chức tựu sẵn mà chờ.
— Ạ! Vậy cũng được. »
Đỗ-khắc-Xương ra về suy tới nghĩ lui mà ngán cho cái nhơn-tình, thiệt nói tới cái nhơn-tình mà ghê mà gớm.
Đến chiều thứ bảy Khắc-Xương về nói lại cho mẹ hay, rồi đi mời Xã-trưởng với Hương-thân và Hương-hào, ngày mai xin đến tại nhà mà thị nhận tờ đoạn-mãi.
Sáng ra bữa sau hương-chức làng tới đủ, bà Đoàn-thị có bảo con Hoa bắt vịt làm thịt cho 3 ông hương-chức ăn uống chơi mà chờ. Qua lối 8 giờ ngoài, vợ chồng Tám-Chỉnh mới đi xe xuống tới. Đỗ-khắc-Xương tờ giấy đã viết sẵn rồi, chờ cho có đủ mặt hai đàng, rồi mới mời mẹ mình ra ký tên trước mặt chủ mua và hương-chức. Đoàn-Thị cầm bút ký tên mà hai hàng nước mắt chảy ra ròng ròng. Đỗ-khắc-Xương cũng ký tên xong, đem để nơi giữa ghế, ông hương-thân già nói: « Theo phép thì chủ mua cũng phải ký tên vào tờ mới được. » Tám-Chỉnh cũng đứng dậy bước tới ký tên rồi cũng để y nơi ghế.
Hồi lâu mà chẳng thấy vợ-chồng Tám-Chỉnh nói chi; làm cho anh hương-hào ngứa miệng nên phải nói rằng: « Tờ giấy xong rồi, chủ bán ký tên cũng đành rành rồi đó, đàng mua sao chưa thâu tờ giấy mà cất đi còn đợi cái gì nữa? » Thị-Bườn nói: « Thưa, tôi còn đợi hương-chức thị nhận giùm. »
Hương-hào.— « Vậy cũng đủ rồi, còn nài anh em tôi thị nhận làm gì? »
Tám-Chỉnh. — « Thưa, có hương-chức thị nhận rồi tôi đem đi đóng bách-phần mà cầu chứng mới được chớ. »
Hương-hào. — « Ạ! Anh muốn cho anh em tôi thị nhận cho anh thì anh phải tính sao, chớ anh ngồi làm thinh đó hoài mà chờ anh em tôi nhận cho anh hay sao? »
Tám-Chỉnh. — « Thưa, cái đó là về phần chị hai tôi và cháu tôi là thằng Ký đây chịu chớ! »
Hương-hào. — « Ạ! Ai biết đâu nà, mà thằng Ký nó đã ký tên như vậy cũng là đủ phép rồi, anh còn nài anh em tôi thị nhận chi vậy? »
Tám-Chỉnh. — « Thưa, có hương-chức ký tên và xã-trưởng nhận mộc mới chắc chớ. »
Hương-hào — « Ạ! anh muốn cho chắc của anh, sao anh bắt người ta chịu tiền. Thiệt, mất lòng anh thì tôi chịu, chớ anh làm nhiều cái không ai nín được; anh ỷ anh có tiền, rồi anh khắc bạc với nhà nghèo quá đổi, anh không sợ trời sao? »
Tám Chỉnh. — « Tôi khắc bạc ai chỗ nào đâu mà cậu hương rủa tôi như vậy. »
Hương-hào. — « Anh không khắc bạc ai à! anh cho nhà nghèo vay, anh ăn lời mỗi tháng tới bốn, năm phân lợi, ai trả nổi thì trả, trả không nổi thì anh bắt làm giấy lại, chồng lời lên mà làm vốn; rốt cuộc rồi thì anh cứ kiện đặng lãnh án thi-hành; tôi làm huơng-hào tại làng nầy mới có hai năm nay, mà đã lãnh án thi-hành cho anh hơn ba bốn đám rồi, ý là có một làng nầy đa, còn nhiều làng khác nữa hơi đâu mà kể. Nay tới phiên chị Đỗ trong nhà đây và thằng Ký là cháu ruột của vợ anh sặm-sờ, mà anh Đỗ là anh ruột của vợ anh, cũng mới mất đây, thiệt đống xương cũng còn chưa lạnh, mà vợ chồng anh nhẩn tâm làm chuyện bức như vầy, thiệt chẳng còn nhứt điễm lương tâm nào hết. Thôi, tôi cũng chẳng thèm nói chuyện đạo-nghĩa với người trọng tiền bạc hơn anh em mà làm chi. Tôi cũng cứ lấy sự bạc tiền mà đối đãi với người tiền bạc. Nay hai vợ chồng anh có muốn cho chắc ý mình thì đem đủ ra đây mười lăm đồng bạc, cho anh em tôi uống rượu chơi thì anh em tôi sẽ thị nhận giùm cho, bằng không thì anh em tôi về, còn đi nhiều việc khác nữa. »
Thị-Bườn. — « Nếu hương-chức không chịu nhận thì thôi, tôi không mua, có hại gì, rồi thằng Ký đây nó phải chạy bạc mà trả cho tôi lập tức, bằng không thì tôi đi kiện liền. »
Hương hào. — « Chị nói bằng chơi đa! Tôi e cho thằng Ký nó kiện chị bây giờ đây, chớ chị đừng có mong mà đi kiện nó. »
Thị Bườn. — « Sao, tôi có việc gì mà nó kiện tôi? »
Hương-hào. — « Chị chịu mua nhà mua đất của người ta, rồi bây giờ chị nói chị không mua, người ta kiện sở tổn chị không được sao? »
Thị-Bườn. — « Lấy cớ nào mà kiện tôi đó? »
Hương-hào.— « Chị đừng có làm hơi lanh mà! (và nói và cầm cái tờ mãi trong tay, chỉ chỗ Tám-Chỉnh ký tên mà nói tiếp). Không mua chớ ai ký tên đây? »
(Nguyên ông Hương-hào nầy cũng có bà con cô cậu với anh em Thị-Bườn, nhằm vai chú của Khắc-Xương, nay thấy vợ chồng Thị-Bườn bức sách cháu ruột như vậy nên giận mà nói ba đều chơi cho bỏ ghét).
Khi nói dứt ời liền kêu Khắc-Xương mà giao tờ mãi lại và nói rằng: « Nầy Ký, cháu cất cái tờ nầy cho kỷ, rồi mai đem lên Tòa mà kiện họ đi, họ không nghĩ chị hai với cháu là bà-con, thì cháu còn nghĩ họ mà làm gì; cháu cứ phép làm đi, bề nào cũng có chú với hai ông Xã-trưởng và Hương-thân đây làm chứng cho, đừng sợ. » Nói rồi vừa muốn đứng dậy đi về. Tám-Chỉnh biết mình thất lý, vì đã ký tên lỡ trong tờ, và cũng nghĩ nếu bây giờ mình giận lẩy mà không mua, để đi kiện thì lại tốn hao thêm mà rồi mẹ con nó lại có gì mà trả, đi lại thì cũng có một miếng đất với cái nhà nầy. Bèn làm bộ cười mơn rồi nói rằng: « Ở nhà tôi nó nói tầm lếu, mà cậu hương nó cũng nóng thì thôi đa! Thôi, mười lăm đồng thì mười lăm, không hề chi, xin ba ông làm ơn nhận giùm. » Và nói và thò tay vào hồ-bao móc ra ba tấm giấy năm đồng mà để trên cái khay trầu.
Ông Xã bèn ngó Tám-Chỉnh mà nói rằng: « Nầy anh Tám, hồi nảy ông hương-hào ổng nói mười lăm đồng đó là phần ba cái ký tên của ba anh em tôi, mỗi cái là năm đồng thì phải rồi; còn phần cái mộc-ký của tôi nhận vào đó nữa thì cũng phải năm đồng nữa mới được. » Vợ chồng Thị-Bườn tức giận vô cùng, song cũng muốn xong việc cho rồi, nên dằn lòng vuốt giận, móc túi để ra thêm ba đồng nữa. Nói gì thì nói, ông xã cũng khăn khắn năm đồng; cực chẳng đã phải lòi ra thêm hai đồng nữa. Chừng ấy ba ông hương-chức mới chịu ký tên và nhận mộc xong xuôi. Vợ chồng Tám-Chỉnh bèn lấy giấy nợ mà trả lại cho Khắc-Xương nơi trước mặt hương-chức rồi mới lấy tờ đoạn-mãi mà cất vào mình. Các việc xong rồi Tam-Chỉnh bèn đứng dậy nói với làng rằng: « Nay cái nhà nầy và miếng đất nầy, mẹ con Đỗ-khắc-Xương đã đoạn-mãi cho vợ chồng tôi rồi, tôi chỉ còn về tĩnh mà đóng tiền cầu chứng nữa là xong; vậy sẵn có hương-chức đây tôi xin nói cho thằng Ký nó hay, nay cái nhà và miếng đất nầy đã thuộc về tay của vợ chồng tôi rồi, vậy tôi hạn trong ba ngày thì nó phải dọn ra đặng cho tôi có đem thợ tới mà sửa lại. » Ba ông hương-chức thấy cái lòng tàn nhẩn của vợ chồng Tám-Chỉnh như vậy thì lắt đầu, còn bà Đoàn-thị với Khắc-Xương thì cứ ngó vô bàn thờ mà rưng-rưng nước mắt. Ba ông hương-chức thấy vậy cũng động lòng, bèn nói nhỏ với nhau chi đó một hồi, rồi kêu Đỗ-khắc-Xương mà nói rằng: « Nè Ký, ba anh em qua đây thấy cái tình-cảnh của chị hai với cháu như vầy mà động lòng quá; trừ ra những đất, đá, cỏ, cây cùng loài cầm thú là giống vô tri vô giác thì mới không nao không núng mà thôi, chớ người mà có chút lương-tâm, thấy cái cảnh-tượng như vầy, ai mà không đau lòng xót dạ! Thôi, cháu cũng chẳng nên buồn làm chi, và cũng chẳng đi đâu xa làm gì; sẵn trên xóm đây có cái nhà lá ba căn, của thằng Tư-Hổ, nay nó tính bán đi, đặng nó về theo quê vợ của nó ở đâu trên Bến-tranh, cái nhà ấy cũng còn khá, nó mới cất hồi năm ngoái nầy đây; còn đất của nó cất đó là đất công-thổ của làng; nghe nói nó dứt giá có bốn chục đồng; vậy thôi cháu mua phứt đi, rồi dọn về đó cho chị hai chỉ ở, còn cháu cứ lo đi làm việc, hễ cứ chúa-nhựt thì về mà thăm chị hai, ở nhà có thằng Hành với con Hoa nó coi cơm nước cho chị hai cũng được. Còn giá bạc bốn chục đồng đó, thì sẵn đây có hai chục đồng bạc thị nhận, ba anh em qua kính lại hết cho chị, chớ không thèm lấy một đồng su nào, cháu hãy cất đi chừng mua cái nhà thằng Tư-Hổ xong thì có anh xã đây, ảnh chịu cho cháu mượn thêm hai chục đồng nữa mà mua cho đủ; rồi mỗi tháng cháu trả lại cho ảnh đôi đồng ba đồng gì cũng được, chừng nào cho đủ cái số hai chục đồng bạc vốn đó thì thôi, chớ ảnh cũng không ăn lời ăn lải gì; còn hai chục đồng về tiền thị-nhận đó, cháu cứ việc cất đi chớ ngại; đã biết rằng anh em qua thị-nhận mà đòi ăn tiền quá luật thì cũng mang lỗi với quỉ-thần; nhưng mà, cũng không sao, lấy của bất nhơn đem cho người hiếu nghĩa thì dẩu cho ông Địa với ông Táo mà có linh thiên, thì hai ổng cũng vui lòng, chớ chẳng chấp nhứt chi tới mấy ông Làng mà sợ. »
Thị-Bườn thấy mấy ông hương đã đòi tiền thị-nhận cho nhiều, rồi đem mà cho Đỗ-khắc-Xương, ấy là có ý bỉ mình, lại còn kiếm lời gần xa nặng nhẹ mà ngạo và nhiếc xéo mình thì giận lắm bèn nói rằng; « Mấy chú đừng có làm bộ cái mặt từ-bi, để tôi trở về tĩnh đây rồi tôi vào đơn tôi kiện mấy chú cho mấy chú coi tôi.
— Kiện về khoản gì đó?
— Về khoản mấy chú thị nhận cho người ta mà ăn tiền quá luật đó chớ khoản gì.
— Bằng cớ đâu? Ba anh em tôi có cho chị biên-lai hay không đó?? Như có biên-lai thì đem biên-lai ra mà trình với quan cho đủ bằng-cớ mà kiện đi. Bằng mà không có bằng-cớ chi hết thì hãy năn nỉ và lo lót với anh nầy đây, (chỉ chồng Thị-Bườn là Tám-Chỉnh mà nói) cậy ảnh làm chứng cho mà kiện. » Nói rồi đứng dậy phủi đít rủ nhau về hết, vợ chồng Thị-Bườn vừa giận vừa hổ, nên cũng dắc nhau ra xe mà về.
Còn Đỗ-khắc-Xương nghe lời ba ông Hương-chức, đi hỏi mua được cái nhà của Tư-Hổ, rồi mướn vài tên dân trong làng xe chở đồ đạt ván phên đem về chỗ nhà lá mới mua đó mà ở. Từ đó Đỗ-khắc-Xương cứ lo đi làm việc như thường, hễ chiều thứ bảy thì về rồi sáng thứ hai thì đi; Đoàn-thị ở nhà nhờ có thằng Hành với con Hoa là hai đứa tớ rất trung-tín, giúp đỡ tay chơn cho bà, nuôi gà nuôi vịt, trồng mướp trồng bầu, để đở thêm với số lương của con, mà chi độ cho qua ngày tháng.
Độc địa thay cho tay Tạo-vật, Đỗ-khắc-Xương đầu đuôi còn có một cái nhà với một miếng vườn, lại khiến cho cha chàng đau rồi kế thác, chôn cất vừa xong thì nhà và đất đã tiêu điều; làm cho một nhà đạo-đức như thế, hiếu-nghĩa như thế, tài-tình như thế, mà nay phải ra thân tất tưởi, mẹ con ở hủ hỉ với nhau trong một khóm lều tranh, như vậy thì cũng đã đủ thãm rồi; nhưng mà, chàng còn đi làm việc được, có cái số lương ba chục đồng một tháng, mẹ con an phận tiện tặn hẩm hút với nhau cho qua ngày tháng như vầy thì người cũng còn chữa chịu dung đâu! Người lại còn muốn làm cho, cho lăn cho lóc, cho đão cho điên, cho tàn cho mạt, cho hại cho hư, ghe phen chầm-chầm, lao-lao lục-lục, thì người mới vừa lòng. Bỡi thế cho nên, Đỗ-khắc-Xương tuy là làm việc rất siêng năng cần cán, lại thêm tánh nết ôn hòa, cho nên chẳng những là ông Sếp đã thương mà thôi, nội trong sở lớn nhỏ mấy thầy cũng đều thương chàng hết thảy. Có dè đâu làm việc vừa được bảy, tám tháng trời, thình lình vùng xán bịnh đau, ban đầu còn xin phép được, vì ông Sếp ấy thương, sau bị đau lâu, đã hai tháng trường mà còn chưa mạnh; ông Sếp củ lại đỗi đi, ông Sếp mới đỗi lại, không biết ất giáp gì, hễ thấy vắng mặt lâu, thì cứ việc bôi sổ và xin sa-thải. Ôi!
Có tài mà cậy chi tài, Chữ tài liền với chữ tai một vần.
Từ đó Đỗ khắc-Xương cứ đau trầm trệ hoài, nên phải nằm bịnh ở nhà, bà Đoàn-thị lo chạy cũng hết phương, mà chàng cũng chưa mạnh.
Đây nhắc qua việc quan phủ Từ-thế-Anh, từ ngày hưu trí, về ở tại Biên-hòa, đã hèn lâu mà không nghe tin tức bên trai chi hết.
Một buổi chiều kia, ông đi chơi về, sao nghe có hơi xây xẫm nhức đầu, tưởng lây lất chút đĩnh rồi thôi, không dè nó đệm ông luôn trót hai tháng trời, bà phủ lo sợ, cầu thầy chạy thuốc cũng hết phương, mà coi thế bịnh của ông càng ngày càng trầm trọng. Lúc nầy Từ-mộ-Trinh trong mình cũng mới vừa khá khá kế thấy cha nàng đau nặng, cho nên nàng cũng lo sợ mà khóc hoài.
(Mà thường con người ta ở đời, lúc còn đầu xanh tuổi trẻ, niên tráng lực cường, thì ai ai cũng liều sống cố chết, xẩn-bẩn trong 4 cái vách tường mà tranh danh đoạt lợi với nhau; có kẻ dám đam tới tánh-mạng mà đổi lấy đồng tiền, ấy cũng vì cái túi tham không đáy, nhan nhản của thói đời cho nên bạ chi làm nấy, chẳng kịp nghĩ suy. cứ sấn sướt làm càn, không đắn đo phải quấy. Đến khi việc đã đáo đầu rồi, thì chừng ấy mới là tỉnh ngộ. Hoặc để cho đến giờ lâm-chung thì mới biết ăn năn, thiệt là muộn quá).
Một đêm kia quan phủ Từ-thế-Anh, nhơn biết trong mình thế không chịu nổi, bèn kêu hết vợ con và Trần-lệ-Dung vào tận bên giường mà than rằng: « Mụ ôi! Từ ngày tôi hưu-trí mà về đây tới nay, cuộc hôn-nhơn của con gái mình, tôi coi ý bên trai họ thấy tôi hết quyền rồi mà họ làm lơ, nên không thấy tin tức gì của họ nữa hết; lúc tôi chưa đau, tôi cũng có gởi cho quan Đốc-phủ Phạm-nhứt-Thanh đôi ba cái thơ, cũng không thấy ông trả lời; thiệt tôi thấy cái nhơn-tình mà tôi chán ngán. Nay tôi hồi tâm nghĩ lại mà thương cái lòng nghĩa của Đỗ-khắc-Xuơng, tội nghiệp cho nó quá, đã hai phen liều mình mà cứu mạng cho Mộ-Trinh; cũng bỡi tôi bất minh trong một lúc mà làm cho lở làng duyên phận của con; nay nghĩ lại mà ăn năn đã muộn, vậy hễ khi tôi mà có nhắm mắt đi rồi thì mụ phải đem hết những đồ nữ-trang của họ buộc tay cho con mình lúc nọ mà tôi để trong một cái rương sắt nhỏ kia, đến nhà dây thép gởi trả cho Huyện-Ngọt, vã lại đồ đó là đồ trượng tiền, nên phải gởi theo cách khai-giá-minh-bạch (valeur déclarée) cho chắc ý và viết một bức thơ mà từ hôn luôn đi; rồi tìm cho được Đỗ-khắc-Xương mà cho hai trẻ nó thành hôn, để đền đáp ơn chàng cho toàn chung toàn thỉ; và mụ nói với nó, xin nó hãy thứ cái tội tham phú phụ bần cho tôi, thì tôi mới được an lòng nơi chín suối. » Nói đến đây nước mắt ông chảy ra dầm dề, coi ý ông mệt lắm, nên ông nín êm mà nghĩ một hồi. Lệ-Dung liền đem chén nước sâm cho ông uống.
Một chặp lâu ông khỏe, bèn kêu Lệ-Dung lại gần rồi vói nắm tay nàng mà nói rằng: « Nầy con, từ ngày con vào ở với ông bà đến nay, cũng đã năm sáu năm trời, mà ông với bà cũng đều thương con như con ruột vậy bỡi vậy cho nên, ông bà mới để cho con lên ở nhà trên mà bậu bạn với chị hai con; nó ăn chi con ăn nấy, nó bận chi con cũng bận nấy, bấy nhiêu đó, tưởng khi con cũng đủ biết cái lòng của ông bà đối đãi với con là thể nào rồi; vậy nếu chẳng may mà ông có theo ông theo bà rồi, thì từ đây con cứ kêu bà con bằng mẹ, ấy là ông đã nhận con làm con rồi đó, đừng có kêu bằng ông bà như trước nữa nghe con! Rồi chị em con cũng cứ yêu thương hòa thuận nhau, ráng cho hết lòng mà nuôi lấy mẹ con kẻo tội nghiệp! » Lệ-Dung nghe ông nói tới đó thì khóc mùi, liền cúi xuống lạy ông, nước mắt tuông ra như suối chảy. Mộ-Trinh với bà phủ cũng khóc ròng. Rốt sau hết ông mới kêu Mộ-Trinh lại gần rồi ông vuốt-ve nàng mà nói một cách rất thê thảm rằng: « Thôi, con ở lại phải ráng mà nuôi dưỡng mẹ con và phải thương lấy em con luôn, trước sao sau vậy; chí như việc hôn-nhơn của con thì cha đã dặn mẹ con rồi, cha không cần nói nữa; cha chỉ còn lo có một đều nầy nữa mà thôi. Vã con là con, mà con biết ở với cha hết lòng hiếu thuận; còn cha đây là cha, mà cha chẳng biết ở với con cho được từ-hòa; xét ra cái phận làm cha mà đối đãi với con như vậy, thì cha cũng không tránh sao cho khỏi lỗi. Vậy thì con phải hứa mà xá cái lỗi ấy cho cha, thì cha mới an lòng mà nhắm mắt đó con ôi! Người xưa có nói: Điểu chi tương tử kỳ min giã ai, nhơn chi tương tử kỳ ngôn giã thiện. Vậy những lời mà cha đã trối với ba mẹ con con đây, thì ba mẹ con phải ghi nhớ, mựa chớ bỏ qua, được như vậy thì dầu cha có thác đi nữa, thiệt cha cũng ngậm cười nơi chín suối! » Nói tới đây thì đàm đã kéo lên, làm cho ông trực thị một hồi lâu, mới thở dài một tiếng rồi nhắm mắt lại, riu-ríu mà qua đời.
Ba mẹ con bà phủ nhào lăn, than khóc rùm nhà, xóm làng tựu tới rất đông, kẻ giúp việc nầy, người giùm chuyện kia, lo mua sắm quách quan mà tẩn liệm.
Khi chôn cất ông xong rồi, bà cũng nghe theo lời ông dặn, gởi thơ cho ông huyện Ngọt mà từ hôn và cũng gởi hết đồ nữ-trang trả lại, không hề vi sơ một món.
Vả lại quan phủ lúc còn sanh tiền, tánh tình huy hoát, ăn xài lảng phí, không hay đáy để chút nào, nên khi ông được về hưu, thì ông chẳng có của dư như mấy ông khác vậy. May nhờ lúc nọ, bà chắt lót giấu để ít nhiều, rủi bị ông đau lâu, nên bà phải đem ra lo chạy thuốc than, đến khi ông mãn phần rồi, cuộc tống táng vừa xong thì của bà tích trử bấy lâu cũng gần muốn hết. Phần thì ba mẹ con yếu đuối, lại là dòng-dỏi trăm-anh, không quen tay lấm chơn bùn, biết lấy chi mà độ nhựt; mẹ con trong lòng buồn bực, vì lo câu tọa thực sơn băng. Nhưng mà cũng may vì hai chị em biết giỏi nghề mạng vớ thêu khăn, nên gắn công thức thối làm rồi đem bán kiếm ăn, cũng đở qua ngày tháng được.
Lần hồi ngày tháng như thoi, bóng thiều-quang đưa rất lẹ, lật-bật mà cũng gần ngày làm tuần bá nhựt cho ông. Ba mẹ con lo rầu, không biết lấy chi mà làm tuần tự. Còn đương ưu lự, thoạt đâu lại có một tên lính làng, đem giấy của nhà thơ dây thép đến, kêu Từ-mộ-Trinh phải đến tận nơi mà lãnh một phong thơ rờ-com-măn-đê. Mộ-Trinh không biết là thơ của ai gởi đến cho mình mà lại gởi rờ com-măn-đê cũng lạ. Nàng bèn sắm sữa đi đến nhà thơ, ký tên vào sổ mà lãnh cái thơ ra rồi, coi kỷ lại thì té ra là thơ của cậu ruột mình là ông huyện Nguyễn-hữu-Thân, ở Bắc-ninh, thuộc về địa-phận Bắc-kỳ, đề gởi cho tên nàng nhận lãnh. Nàng mừng khắp khởi, liền xé ra coi, thấy trong cái thơ lại có một cái măn-đa một trăm rưởi đồng của cậu mình gởi vào cho. Sẵn dịp đó nàng ký tên mà lãnh luôn bạc ra, rồi mau mau quày-quả về nhà mà nói lại cho mẹ với em hay mà mừng với nhau. Bà phủ nói: « Hôm đó má bảo con viết thơ gởi ra cho cậu con hay tin cha con mất vậy thôi, chớ má có xin tiền xin bạc chi đâu, mà cậu con nó lại gởi bạc cho mẹ con ta nhiều lắm vậy? Đâu nà, con đọc hết cái thơ của cậu con lại cho má nghe thử coi; hay là nó gởi mượn mua đồ giùm cho nó như mấy năm trước vậy chăng? » Mộ-Trinh thưa rằng: « Không mà, cậu ba cho mình thiệt má à, con coi kỷ cái thơ rồi, cậu ba biểu mẹ con mình ra ngoải nữa. Mà thôi, để con đọc kỷ lại cho má nghe. » Mộ-Trinh nói rồi liền lấy thơ đọc rằng:
Bắc-ninh, le............. 192...
« Kính thăm chị hai và hai cháu cho được bình an, mới hôm trước đây em có tiếp được thơ của cháu gởi ra cho em hay rằng anh phủ đã mất lộc rồi, thiệt em cũng lấy làm buồn cho chị và hai cháu; song em coi lại cái thơ thì té ra anh phủ mất đã hơn hai tháng rồi chị mới cho em hay; nên em không hiểu tại sao mà chị để trễ lâu mới cho em hay như vậy.
« Trong thơ em lại thấy cháu nó than rằng anh phủ mất rồi mà chị với cháu phải chịu nghèo vậy vậy. Nên em phải mau mau mua măn-đa gởi về cho chị một trăm rưởi đồng, để dùng mà đở ngặt; vã lại bây giờ đầu đuôi mình còn có hai chị em mà chị ở Nam em ở Bắc, thiên san vạn hải, cách trở xa xuôi, vậy thì hay hơn là chị bán hết nhà cữa rồi dắc hai đứa cháu ra đến Bắc-ninh mà ở với em cho gần gủi, bề nào cũng tình thâm cốt nhục với nhau; xin chị và cháu hãy tính cho sớm mà ra đây, mựa đừng dụ dự, em hết lòng trông chị chẳng cùng, nay kính. »
Nguyễn-hữu-Thân Tri-huyện à Bắc-ninh.
Bà phủ nghe con đọc thơ rồi, bà có lòng mừng, bà tính để làm tuần bá-nhựt cho ông rồi sẽ kiếm người mà bán cái nhà, đặng đi ra Bắc mà ở với em cho gần gủi. Còn Mộ-Trinh khi nghe bà tính như vậy thì buồn, bèn thưa với mẹ rằng: « Má tính vậy thì con không dám cải, chớ mẹ con ta mà đi hết đây rồi, thì cha con ắt chịu mồ hoang cỏ lạnh. » Nói tới đó thì nàng lấy khăn ra mà lau nước mắt, rồi lại nói tiếp thêm rằng: « Huống chi cậu huyện tuy là em ruột của má mặc dầu, song má cũng phải phòng cái lòng dạ của em dâu; như may mà mợ ba là người hiền-đức thì chẳng nói làm chi, nếu mợ ba mà cũng như người đờn-bà tầm thường kia vậy, thì con e ở lâu cũng bất tiện lắm má à. Vậy chớ má quên câu: Cửu trú lịnh nhơn tiện, tần lai thân giả sơ rồi hay sao má? » Bà phủ nói: « Con nói vậy cũng phải, nhưng má nghỉ lại cũng không sao; nay con phải viết thơ mà hồi âm cho cậu huyện con rõ; nói rằng mẹ con ta để chờ bán cho được cái nhà đã rồi sẽ đi ra; trả lời trước như vậy đi, kẻo cậu huyện con ở ngoải nó trông, rồi lo làm tuần bá-nhựt cho cha con, lại kêu thợ hồ đặt soát cho nó chừng một trăm đồng, bảo nó mua đá, gạch và xi-măng mà xây đơn-sơ cái mộ của cha con cho ấm cúng; má tính vừa làm tuần vừa xây cái mộ cho cha con thì ắt tiêu mất hết cái số bạc một trăm ruỡi đồng của cậu con cho đây rồi; còn đường đi từ đây mà ra cho tới Hải-phòng, rồi lên tới Bắc-ninh, tiền tàu và tiền xe mỗi người chừng lối hai mươi ngoài đồng, tính cả ba mẹ con mình thì hết, lối sáu bảy chục đồng; mà cái nhà của mình đây, có bán rẻ nào cũng được bảy tám trăm đồng; mình bán phứt nó đi, rồi đem gởi bớt cho Băng, để chừng vài trăm cho đủ sở hụi vừa khứ vừa hồi, trước là đi chơi cho giải bớt sự buồn rầu, sau là thăm cậu mợ con luôn thể, vì đã hơn 15 năm trời, chị em xa cách mặt nhau; như mẹ con mình ra đó mà cậu mợ con có tử tế thì ở lâu, bằng mà con có ngại bụng mợ dâu hay nói nọ nầy vầy khác, thì mẹ con ta cũng sẵn có đồng bạc trong mình, có lo chi là đều bất tiện. Ta hãy dùng dịp ấy xuống Hà-nội mà làm quen với mấy tiệm bán hàng lụa Bắc-kỳ, vào Băng lãnh hết bạc ra, mua hàng lụa về Nam mà bán; mà rồi ta lại được quen thuộc với người ngoài Bắc, tỏ tình liên lạc Bắc-Nam, hễ có nơi quen biết nhau rồi, tự hậu ta khỏi phải vào ra mà tốn nhiều tiền cước, ta chỉ cứ ở trong nầy gởi thơ và bạc ra, muốn mua kiểu nào, thức nào, cứ nói trong thơ là đủ, rồi mẹ con ta hoặc là ở tại Saigon buôn bán lắt lẽo mà nuôi nhau, có khi còn khỏe hơn ở tại Biên-hòa nầy mà rồi những khăn và vớ của hai chị em con làm đây, ở Saigon cũng là dễ bán nữa đa con à. Đó! Má tính như vậy con nghĩ lại coi, có phải là lưỡng tiện hay không? Mình ra đó mà thăm cậu con rồi, liệu ở được thì ở, bằng không được thì về, nào ai buộc trói chi mình mà con quá lo cho nhọc trí. Má chỉ còn lo có một đều mà nó làm cho lòng má xốn xang, đã biết rằng nay con còn đương mắc đại tang, việc hôn-nhơn chưa nên tính vội thì mặc dầu, song không biết Đỗ-khắc-Xương bây giờ mẹ con nó lưu lạc ở đâu, vì má có nghe người ta nói, cha nó cũng đã mất rồi, còn nhà cữa vườn đất gì cũng bị một mụ cô của nó đã đoạt hết đi mà trừ nợ. »
Từ-mộ-Trinh đương buồn nổi mình, bổng nghe mẹ mình lại nói đến việc gia biến của chàng thì lại càng xót dạ đau lòng mà rưng rưng nước mắt. không biết chàng lưu lạc xứ nào. Lệ-Dung thấy vậy lòng cũng ngùi ngùi, bèn thưa với mẹ và chị rằng: « Việc nầy con tưởng cũng dễ hỏi thăm, vì con biết ảnh có một người chú bà-con, làm hương-hào ở trong làng ấy; khi mẹ con ta ra tới xứ Bắc, yên nơi yên chỗ rồi, thong thả ta lại viết thơ gởi về cho ông hương ấy, cậy người thăm dọ tin ảnh ở đâu; hoặc chừng nào mà mình về ở buôn bán tại Saigon theo như lời má tính đó, lại càng dễ tìm tin ảnh hơn nữa; vì ảnh là người Tây-học, hễ thất thời thì phải đến Saigon kiếm công việc mà làm, chớ không lẽ ảnh rút ở trong vườn mà chịu nghèo cho được; như thế thì sớm muộn gì ắt mình cũng biết được tin ảnh chớ chẳng không. » Bà phủ với Mộ-Trinh nghe nói cũng yên lòng, bèn lo qua việc làm tuần và mướn người xây mộ.
Cách chẳng bao lâu tuần tự vừa xong, mồ-mả cũng xây rồi, mẹ con bèn làm tờ đoạn mãi cái nhà của bà cho một thầy thông kia được bảy trăm rưởi đồng, và còn phần riêng bàn-tủ, ghế-đẳng, ván-phên trong nhà cũng được vài trăm; duy có những đồ nội cái bàn thờ, thì bà đem gởi cho một người bà-con trong họ của bà, rồi mẹ con đề huề dắc nhau xuống Saigòn xin giấy thông-hành và mua giấy tàu mà ra Bắc.
Đêm ấy mẹ con nghĩ ngơi tại Saigon, sáng ra bữa sau, mới kêu xe kéo chở đồ hành-lý xuống tàu; vào lối 8 giờ, tàu đã lấy neo, rồi chạy quanh qua lộn lại, chìu uốn theo khúc sông, chừng lối 2 giờ chiều thì tàu đã tới Vủng-Tàu, ngừng lại đó một khắc đồng-hồ cho hoa-tiêu xuống, rồi thì trực chỉ ra khơi, chạy thẳng thét 3 đêm 3 ngày mới tới Hải-phòng. Tàu đậu yên rồi, ba mẹ con bèn dắc nhau lên bờ, kêu xe chở đồ đem đến ga xe lửa, đi luôn lên Hà-nội; rồi lại mướn xe ô-tô đưa thẳng đến tĩnh Bắc-ninh. Khi đến nơi rồi đi kiếm hỏi thăm, hơn trót giờ lâu mới tìm được nhà ông huyện. Chẳng dè ông huyện đã bị đổi lên Cao-bằng, ông mới đi trước ngày mẹ con bà phủ ra tới, độ chừng mươi bữa. Nhưng may vì ông nghĩ Cao-bằng là xứ xa đất lạ, phần thì hai cậu con của ông vẩn còn nhỏ lắm mới có năm ba tuổi mà thôi; sợ e thủy thổ chẳng hiền, nên ông để bà huyện với hai cậu nhỏ ở nhà, ông đi trước một mình lên đó coi địa-thế thể nào, rồi chừng vài ba tháng ông sẽ trở về mà rước bà với hai cậu nhỏ. Lúc ra đi ông có dặn bà huyện rằng sớm muộn gì cũng có bà phủ là chị ruột của ông với hai đứa cháu gái ở trong Nam-kỳ sẽ ra thăm ông, nếu chị ông và cháu ông mà ra tới rồi, thì phải cầm ở lại mà chờ ông và phải hậu đải chị ông cho tử tế, vì đầu đuôi ông còn có một bà chị đó mà thôi, nên ông xem bà chị của ông cũng như mẹ vậy. Bà huyện đã tỏ ý vâng lời, mà ông cũng còn đinh ninh căn dặn đôi ba lần rồi ông mới lên đường. Nguyên bà huyện nầy tên là Đào-Thị, tánh-tình sâu sắc, độc ác bất nhơn; trừ chồng con của bà ra rồi thì bà chẳng còn có chút lương-tâm gì mà biết thương ai ở trong thế-giái nầy nữa.
Đây nhắc lại việc bà phủ, đỗi đường xa xuôi, thiên san vạn hãi, tìm đến mà thăm em, chẳng dè ra đến mà chẳng thấy em thì mặt mày bà buồn nghiến. Chí như hai chị em Mộ-Trinh, tuy bà huyện là mợ dâu của mình, mà thuở nay kẻ Bắc người Nam, chưa biết mặt lần nào, cho nên trong lúc thấy nhau rất nên bợ ngợ.
Còn bà huyện là Đào-Thị, khi thấy chị chồng và cháu chồng mới ra, lại nghe tiếng chị chồng mình là bà phủ ở Nam-kỳ, thì coi ra thế bà ân cần vui vẻ lắm; mấy ngày đầu bà lo đi chợ, hối thúc trẻ ở nấu cơm, bà săn sóc từ miếng ăn miếng uống, ban đêm lại lo trải nệm giăng mùng; trong lúc thảnh thơi, chị em chuyện vãn với nhau, bà phủ mới tỏ thiệt qua việc gia-đình của mình, vì nay chồng đã mất rồi, gia-thế suy vi, mẹ con côi cút không ai, nên bà mới tính ra nương dựa với em cho gần gủi. Khi Đào-Thị nghe rõ trước sau rồi, bề ngoài tuy là ừ hữ gọi là, mà bề trong bà đã có ý chẳng vui. Từ đó đến sau, tánh ý của bà, thiệt chẳng có ai chế ai pha, mà sao càng ngày coi càng lợt. Từ-mộ-Trinh với Trần-lệ-Dung dòm coi tánh ý Đào-Thị, tuy đã thấy rõ như gương, song sợ mẹ phiền lòng, nên chẳng dám nói chi, cứ đánh chữ làm thinh, để coi cho rõ cái nhơn-tình ra sao cho biết.
Mẹ con ở đó hơn trót tháng ngoài, một hôm có một bà Phán là người giàu-có lớn ở Hà-đông lên chơi, tính ở nghỉ đó một đêm. Đào-Thị bèn khiến đứa ở dọn đồ hành-lý của ba mẹ con bà phủ đem ra để ở nơi bộ ván ngựa ngoài, rồi dọn quét cái phòng chỗ mẹ con bà phủ nằm hỗm rày đó, lót nệm trải ra (drap), thay áo gối mới vào, để cho bà Phán nghỉ ngơi tại đó.
Đêm ấy hai chị em Mộ-Trinh không ngủ, cứ rầm-rì to nhỏ chuyện vãn với nhau, chờ cho đêm vắng canh khuya, trong nhà ai nấy ngũ rồi, Mộ-Trinh mới mò lại gần, kêu mẹ dậy mà nói chuyện. Ban đầu nàng tưởng bà đã ngũ rồi, chẳng dè khi nàng lại gần, đèn tắt tối thui, nàng mò động nhằm gò-má của bà, thấy sao ướt rượt; chừng ấy nàng mói hay mẹ mình còn thức mà khóc đây chớ chưa ngủ, nàng liền rút khăn mu-soa (mouchoir) mà lau nước mắt cho mẹ, rồi lại cúi xuống hun mẹ một cái mà hỏi rằng: « Má chưa ngủ hay sao má? » Bà phủ liền đáp rằng: « Chưa, má buồn quá, đà ngủ được đâu con.
— Sao má buồn vậy má?
— Má thấy cái tình đời, rồi má nghĩ lại má nhớ cha con quá? Phải cha con còn, thì mẹ con mình có đâu mà phải ra thân tất-tưởi như vầy.
— Hồi còn ở nhà con cũng đả có nói với má mà má không nghe, bây giờ đến việc rồi đó, má thấy không? Cửu trú lịnh nhơn tiện là vậy đó đa! Hồi chiều tới giờ hai chị em con thấy cái cách của mở đối đãi với mẹ con mình như vậy nên chị em con cũng buồn, tính chờ cho trong nhà họ ngủ hết rồi sẽ bàn tính với má; đặng liệu coi, hoặc là trở về Nam-kỳ, hoặc là kiếm phố khác mướn mà ở đỡ, rồi má có đi xuống Hà-nội mà kiếm coi hàng hoá thể nào, như lời má đã tính hồi ở trỏng đó, chớ ở đây nữa mà làm gì cho người ta khinh khi bạc đải mình như vậy.
— Má cũng tính như con vậy đó, ngặt vì cậu ba con nó đi khỏi, đổi đường ở trỏng ra đây, chị em không thấy được mặt nhau, rồi bỏ mà đi về thì cũng ức; thôi, để nín nẫm một hai ngày mà chờ cậu con coi, rồi sau sẽ liệu; vậy để sáng mai má phải đi xuống Hà-nội vài bữa. »
Chẳng dè bà huyện lại có một đứa cháu trai kêu bà bằng cô, tên là Đào-duy-Thạt, tuy sanh trong nhà giàu có, mà tánh tình du-đảng, lại cũng là một môn với bọn Đăng-đồ; thường hay tới lui nơi nhà quan quyện.
Một buổi kia nhằm lúc bà phủ mắc đi xuống Hà-nội, hai chị em ở nhà đương ngồi thêu khăn và chuyện vản với nhau, còn đương nhắc chuyện đâu đâu; thình lình vùng nghe có tiếng giày tây cộp cộp ngoài ngỏ bước vào, làm cho hai chị em giựt mình, liền ngước mặt ngó ra: té ra người đó là Đào-duy-Thạt, nhơn đi chơi tiện đường thừa ưa ghé đó thăm cô. Bợm ta vừa mới bước vô, thoạt nhiên trông thấy hai nàng, tuy không trang điễm như ai; nhưng mà, mắt phụng mày ngài, dung nhan yểu điệu, mặt hoa mày liểu, da trắng như ngần. Thiệt là: Mai cốt-cách, tuyết tinh-thần, một người một vẻ mười phân vẹn mười.
Nguyên Đào-duy-Thạt nầy là một tay phóng-đảng, mèo-đàng chó-điếm, tập tánh đã quen; nay tình cờ mà thấy hai cô gái-đẹp, như ngọc-nữ, như tiên-đồng, thì bợm ta đà quắn-quít trong lòng, có thế nào mà bỏ qua cho được, bèn vào thăm cô, rồi lần hồi mới hỏi thăm qua chuyện hai nàng ở đâu cho biết. Đào-Thị cũng cứ trước sau tỏ thiệt bợm ta mới biết là con quan phủ ở Nam-kỳ, mà lại là cháu, kêu giượng mình bằng cậu; nay may mà giượng mình không có ở nhà, thế ra cũng dễ cho mình rủ trăng quến gió. Nghĩ như vậy rồi lại chẳng chịu về, cứ lân la chà-lết mải ở đó, đặng có làm quen, ban đầu còn đứng xa xa, sau mới mon men, muốn lết lại gần, cho dễ thả mồi ong bướm. Hai chị em đà biết ý, song chẳng nói chi, để coi chú-chàng muốn thả giọng gì cho biết. Đào-duy-Thạt bèn bước tới tủm-tỉm miệng cười mà thả hơi ra rằng; « Từ Nam ra Bắc đường sá xa xuôi, hai cô đi có việc gì thế? » Lệ-Dung liền đáp rằng: « Thưa thầy, chị em tôi ra đây là cũng có nhiều duyên cớ.
— Duyên-cớ gì thế?
— Thưa thầy, anh rể tôi đương làm việc ở tại tòa Sứ Hà-nội, nhơn nghe tin cha tôi mất lộc, anh tôi về không được, nên cho chị tôi đây (và nói và chỉ Mộ-Trinh) về trong ấy mà chịu tang. Nay mẹ con tôi ra đây, trước là đưa chị tôi ra để sum hiệp với anh tôi; sau là thăm cậu mợ tôi đây luôn thể, nhơn tiện cũng cho cậu mợ tôi hay rằng mẹ tôi đã định đôi cho tôi và cũng đã cho người ta làm lễ Sơ-vấn rồi, chờ đến kỳ mãn phục cha tôi, thì sẽ làm lễ thành hôn, nên mời cậu mợ tôi trước, chừng ấy có rảnh thì vào uống rượu chơi với mẹ tôi vậy.
— Thế ra hai cô đã có chồng rồi cả?
— Thưa phải.
— Ôi chào! Uổng lắm nhỉ!
Mấy lời của Trần-lệ-Dung nói dối với Đào-duy-Thạt trên đây, là có ý muốn làm cho bợm-ta thấy hai chị em đã có chồng hết rồi, mà không trêu bẹo ghẹo chọc tới nữa, chẳng dè bợm-ta cũng không đếm xĩa gì, cứ đứng hỏi dần-lân mải cho đến khi bị nhục mới thôi).
— Hai cô ở Nam-kỳ ra đây, đường sá xa xuôi, tàu-bè biển-giả, có khi mệt lắm nhỉ?
— Thưa thầy, phàm hể ăn no rồi mà cứ ngồi một chỗ, thế mới mệt chớ! Còn như chị em tôi mà đi tàu-bè biển-giả, được hớp lấy thanh-khí giữa trời, càng đi xa, càng khoẻ khoắn tinh-thần; chớ mệt là mệt làm sao?
— Ối chào! Hai cô là gái mà nói nghe anh-hùng quá!
— Thưa thầy, chị em tôi đâu dám xưng với thầy là mặt anh-hùng. Nhưng mà, chị em tôi phận tuy là gái, song cũng biết cái nghĩa-vụ làm người, ăn của đời, phải lo báo bổ cho đời; một mai mà nước nhà điên-đảo, nếu có dịp mà dùng đến chị em tôi, thì chị em tôi cũng biết phất cờ gióng trống, cũng biết cật ngựa lưng đao, đóng nổi một vai tuồng Nương-tử-quân nơi giữa chốn chiến-trường mà đền bồi cho Tổ-quốc. Chớ không phải như ai kia, đường đường một đấng râu mày, mà năm chí cuối, chỉ cứ ăn không ngồi rồi, một ngày hai buổi, trông cho no bụng thì lại đánh áo đánh quần, chưng cái bộ mặt văn-minh hình-thức ra cho sáng lạng huy hoàng, để mà dạo xóm dạo làng, trai trên gái dưới, phóng đãng chơi bời, chẳng biết quốc-gia xã-hội là chi, ngang bể dọc trời, hiêu hiêu tự đắc; ấy mới gọi là đương thế anh-hùng chớ! »
Nghe mấy lời nghiêm trang đoan chánh của Lệ-Dung nói đó thiệt là thấm thía tới đâu, làm cho bợm ta điên óc nhức đầu, bỏ ra về một nước.
Mà cũng lạ thay! Theo như người có liêm-sỉ, biết tu-ố mà nghe mấy lời của Lệ-Dung nói đây thì ắt phải che mặt đậy mày; tưởng khi trọn cả đời, cũng còn chưa dám ngó tới cái dung-nhan của nàng nữa mới phải cho. Chớ như Đào-duy-Thạt nầy thì không phải vậy, chỉ biết hổ hang có một lúc là nội hồi đó mà thôi, chớ hễ về nhà rồi thì quên hết cả mọi việc, chỉ còn nhớ chăm bẳm có cái sắc đẹp của hai nàng ấy mà thôi. Bỡi vậy cho nên khi về nhà rồi bợm ta chỉ cứ bù-xa bù-xít, trằn trọc cả đêm, nằm không an giấc, quyết lo làm sao cho cả hai nàng đều lọt vào tay thì mới cam tâm; bèn tính để sáng ngày qua hỏi thữ ý cô mình coi ra thể nào rồi sẽ liệu.
Sáng ra bữa sau bợm ta thức dậy, đánh áo đánh quần đi thẳng qua nhà bà huyện, rồi đi tuốt ra nhà sau nói nhỏ với cô mình mà tỏ bày việc ấy. Đào-Thị liền cười tủm-tỉm mà nói nhỏ rằng: Cháu muốn đứa nào? Con em hay con chị?
— Hai đứa sao mà đứa nào cũng đẹp hết, cháu không biết đứa nào mà lựa, nên cháu muốn trụm cả hai, ước có được chăng? (Đào-Thị cười).
— Cháu tham quá vậy sao được? Chưa được đất Lũng mà đã mong tới đất Thục à! Đều nói thì nói vậy, chớ cô sợ mẹ nó không gả đâu; vì cô có nghe nói rằng hai đứa đều có người ta đi nói rồi hết, chớ chưa cưới, vì chúng nó còn mắc đại tang (tang cha).
— Ủa! Sao con nhỏ nó nói rằng chị nó đã có chồng rồi, đương làm việc ở nơi tòa Sứ Hà-nội kia thê mà!
— Nó nói dối cháu đó, nếu chị nó đã có chồng ở tại Hà-nội, sao hồi sáng nầy mẹ nó đi xuống Hà-nội, con chị nó không theo mẹ nó mà đi thăm chồng, lại ở đây mà làm gì thế?
— Ối chào! Thật con nhỏ nớ nó lanh quá nhỉ!
— Như cháu có muốn nó, thì cháu phải thừa dịp đêm nay mẹ nó không có ở nhà, cô cố ý đóng cữa sau sơ sịa, cháu chờ khuya một chút, để cho chị em nó ngủ hết rồi, cháu lỏn vô.,........... thì xong việc, chớ có khó gì. Ối mà! Nầy, cháu phải coi chừng đa nghe hông! Cô coi ý cái con nhỏ nó lanh lắm đa! » Đào-duy-Thạt tủm-tỉm miệng cười rồi từ tạ cô mà về.
Đêm ấy vừa lối mười hai giờ khuya, Từ-mộ-Trinh đương ngũ mơ màng vùng nghe như có ai đánh ai một cái choát! Rồi lại nghe một cái ịch rất mạnh, như có ai té xuống đất vậy, lại nghe la một tiếng: « Ối chào! Chết tôi rồi. » Từ-mộ-Trinh không hiểu việc gì, hồn vía rụng rời, vùng lồm-cồm ngồi dậy, lại nghe tiếng Lệ-Dung hỏi rằng: « Chị thức đó phải không chị hai? Mau đốt đèn lên, em đã bắt đặng kẻ trộm rồi đây. » Mộ-Trinh nghe nói lại càng hải kinh hơn nữa, tay chơn run rẩy, quẹt hơn cả chục cây quẹt mà đốt chưa được cái đèn.
Đến khi đèn đốt sáng lên rồi, coi rỏ lại thì thấy Đào-duy-Thạt nằm ngửa dưới đất mà rên hì-hì; Trần-lệ-Dung chơn còn đạp ngay trên bụng chú-chàng mà nét mặt coi còn lườm-lườm giận dữ. Mộ-Trinh bèn khuyên em rằng: « Thôi em, hãy thả hắn ra em. » Lệ-Dung bèn trỏ vào mặt Đào-duy-Thạt mà nói rằng: « Nếu chẳng có chị tao khuyên tao, và tao không vì nể mợ huyện của tao trong nhà đây, thì tao cho mi một đá nữa cho mi bay hồn, từ rày mi phải chừa mặt tao đi, đừng có đem thói cầm thú mà đối đãi với chị em tao như vậy nữa mà chết oan uổng mạng. » Nói rồi liền lấy chơn đi. Đào-duy-Thạt lồm cồm ngồi dậy tay thì ôm bụng miệng thì rên, rồi lỏn ra ngỏ sau về mất. Kế lấy Đào-Thị trong phòng buớc ra hỏi rằng: « Hai đứa bây làm gì mà chừng nầy còn chưa ngũ, lụi-bụi việc gì đó vậy? » Mộ-Trinh bèn đem những việc của Đào-duy-Thạt đã làm đều nhục nhả cho danh-giáo như vậy mà tỏ hết cho mợ mình nghe, có ý xin mợ mình hăm he quở trách Đào-Duy-Thạt cho hắn biết lỗi mà chừa. Không dè Đào-Thị vùng trở mặt mà nói rằng: « Khéo lắm! Chó đâu có sủa lỗ không? Nếu hồi trưa mà chị em mầy không có trò chuyện với nó, không có mi lai nhản khứ với nó, thì sao mà nó dám lăng loàn như thế? Bây giờ bễ chuyện sao đó, rồi liệu thế không êm, nên muốn lẽo mép với tao cho khỏa lấp đi phải hông? Để chị phủ chỉ về đây, tao bảo chỉ dắc bây đi đâu thì dắc; chớ cái đồ hư như vậy tao không chứa ở trong nhà tao nữa đâu. » Mộ-Trinh nghe nói nghẹn ngào, tức tối nói chi không được hết, cứ ngồi đó mà khóc ròng. Còn Lệ-Dung thì thấy cái lòng người nham hiểm như vậy mà bắt cuời thầm. Đào-Thị mắng nhiếc hai chị em một hồi, rồi bỏ đi ngũ. Lệ-Dung bèn nói nhỏ nhỏ mà khuyên Mộ-Trinh rằng: « Lòng người nham hiểm, ấy cũng do nơi cái tai ách của mình mà ra, hơi sức đâu mà rầu mà khóc a chị; miển là trời đất biết rỏ tấm lòng trinh-bạch của mình thì thôi? » Mộ-Trinh bèn lau nước mắt mà hỏi Lệ-Dung rằng: « Nầy em, vã thằng đó là đờn-ông con-trai hùng hùng củ củ, còn em đây phận là con-gái, hình dung như liểu yếu mai hoằng, bề nào nó cũng có sức mạnh hơn em; chẳng biết em làm thế nào mà em đánh ngã nó được vậy? Huống chi lúc ấy đã khuya rồi, sao em biết nó vô đây mà phòng trước? »
Lệ-Dung nói: « Lúc nhỏ, khi em tuổi mới nên mười, nhờ có người chú của em thọ truyền vỏ-nghệ cho em, song từ ngày em vào ở với chị đến nay, em tưởng chẳng có ích gì mà cho chị biết làm chi, nên em chưa nói thiệt. Hồi trưa nầy hai cô cháu họ to nhỏ với nhau nơi nhà dưới, nói nói cười cười, không biết bàn luận những việc gì mà em vừa đi trờ tới thì em nghe mợ huyện nói gì mà có tiếng: Cữa sau...., rồi thấy em bước tới vùng nín đi; em lại thấy cái tuồng mặt thằng quỉ lồi đó, có ý hớn hở, hình như đắc chí việc gì lắm vậy. Bỡi đó mà nó làm cho em phát nghi, nên em liệu chắc là cô cháu họ toa-rập với nhau, bày mưu thiết kế, nữa đêm lén mở cữa sau cho thằng đó lỏn vào mà rờ-rẫm khuấy-phá chị em mình chi đây chớ chẳng không. Bỡi nghỉ vậy cho nên em không dám ngủ, tuy nằm thì nằm, song em chỉ cứ thức hoài mà phòng đều nguy biến. Mà thiệt quả như lòi em liệu trước, cho nên lúc hắn lò-mò đi vô gần tới, em cứ lẳng-lặng làm thinh mà giả đò ngủ, để cho hắn men lại gần, xuất kỳ bất ý, đánh cho hắn một bộp tai xửng-vửng, em lại thừa thế mà đá ngang cho hắn một đá tréo giò, nằm ngữa sải tay, rên như bò rống. » Nói tới đó rồi hai chị em lại bụm miệng nhau mà cười sùng-sục. Mộ-Trinh bèn vổ vai Lệ-Dung mà nói rằng: « Thiệt em là gái, mà tánh chất thông minh, lại thêm nhân nghĩa vẹn toàn, sắc tài gồm đủ, chị mà có em như vầy thì biết bao là hạnh-phước. Nhưng mà, từ đây chị em ta cũng phải đề phòng, vì thằng đó mà nó bị em đánh nó đây, thế nào nó cũng sanh lòng cừu oán, lại thêm mụ cô của nó đây cũng chẳng phải là người hiền-lương đâu em, nếu mình ở đây ắt có ngày phải mang họa lớn; thôi, để chờ má về rồi mình sẽ nói với má, phải tính lẽ nào, chớ để ở đây lâu, ắt sanh đều bất tiện. » Chị em bàn tính với nhau xong rồi mới làm thinh mà ngũ.
Còn Đào-duy-Thạt đã bị Lệ-Dung đánh đá như vậy mà cũng chưa chịu tởn, về nhà suy nghỉ, tức giận câm gan; bèn nói một mình rằng: « Vã cô ta đã cho ta được phép tự do, thì là dễ quá, thật là thịt đã tới mồm rồi; có dè đâu mà cái con nhỏ quái ấy nó hung quá, nếu con chị của nó mà không cảng nó, thì ắt nó đã đạp ta giẹp ruột đi rồi. Nhưng mà, không lẻ ta sợ nó mà thôi đi hay sao? Phải làm tới mới được; nhứt bất tố, nhị bất hưu. Thà không làm gì thì thôi, chớ nay đã lở ra rồi, nếu ta nhịn nó thì ắt chẳng khỏi bị sắp đày tớ của cô ta nó chê cười ta là thằng tướng nhát. Thế thì ta phải làm sao cho hai chị em con nhỏ nầy đều lọt vào tay ta hết cả, thì ta mới nghe cho. Ngặt vì con nhỏ ấy nó có vỏ-lực, chớ chẳng phải như con gái tầm-thường; nếu muốn cho được lưởng toàn, thì ta phải mướn một bọn du-côn, cũng phải cho có vỏ-lực, nữa đêm ta lén đem thuốc vào mà xông cho chị em nó ngũ cho thiệt mê, rồi ta xúm nhau trói hết cã hai chị em, bắt bỏ lên xe, chở chúng nó lên rừng, đem đến nhà của một người bạn-hữu ta mà gởi đở; chỗ đó tư bề rừng núi vắng vẻ chẳng ai hay, rồi kiếm một người đờn-bà miệng lưỡi cho cực kì lanh lợi, để khuyến dụ chúng nó; như chúng nó chịu nghe theo thì tốt, bằng chẳng nghe thì ta lại lập thế, hủy phứt con nhỏ đó đi mà rửa hờn; chỉ còn có một mình con chị, thì ta muốn thế nào lại không được » Nghỉ tới đó rồi bợm ta lấy làm đắc ý, mặt mày hớn hở, tủm-tỉm cười thầm, rồi nói một mình rằng: « Tao đố bây chạy đường nào cho thoát khỏi tay tao »
Sáng ra bữa sau, bợm-ta lo đi kiếm mướn được một lủ côn-đồ hơn 9, 10 đứa, dặn dò sắp đặt mưu lớp đâu đấy sẵn sàng, chờ tối lại sẽ hiệp nhau mà cử sự. Rồi đó bợm-ta lại viết một phong thơ mà nói rỏ hết cái kế của mình tính vậy vậy, rồi sai người tâm-phúc đem qua cho cô mình là bà huyện hay, xin bà để cữa sau cho mình dễ bề thi thố.
Chẳng dè đêm ấy Mộ-Trinh với Lệ-Dung, nhơn thấy việc đêm hôm qua như vậy, cho nên đêm nay cũng còn lo sợ phập-phồng, cứ thao thức mà nói chuyện rầm-rì với nhau mải cho đến 3, 4 giờ khuya; chừng mòm quá mới chịu ngủ quên.
Mà thường hễ đứa có tình, nó hay rình người vô ý, nên khi hai chị em vừa nhắm mắt ngũ rồi thì Đào-duy-Thạt liền lén đem thuốc mê vào mà xông; trong giây phút thì hai chị em đã bắt hơi thuốc mà ngủ mê-man như chết. Đào-duy-Thạt bèn kêu lủ du-côn đem dây vào, vừa muốn ra tay; thình lình, thoạt nghe có tiếng xe ô-tô, ù ù ở đâu chạy tới, đậu ngay trước cữa; rồi lại nghe có tiếng gỏ cữa mà kêu. Bà huyện lóng nghe thì biết rỏ ràng là tiếng bà phủ đi Hà-nội về. Cô cháu đều hoảng vía kinh hồn. song việc đã lở ra rồi không biết tính sao, bà huyện liền hối Đào-duy-Thạt, khiến bọn du-côn áp vào khiên nhầu hai chị em nàng đi ra ngỏ sau, đem bỏ đại lên xe rồi cứ việc quất ngựa chạy dông lên rừng; còn bà phủ thì để đó mặc mình tùy cơ ứng biến.
Nguyên bà phủ đi xuống Hà-nội đặng có dọ coi cho biết mấy tiệm hàng lãnh, nhiểu, the, giá cả thể nào, để chừng về Nam-kỳ sẽ mua đem về mà bán, và bà cũng có ý giao thiệp với một ít tiệm hàng nơi đất Bắc cho có chỗ quen lớn, phòng sau có gởi thơ mua hàng cho dễ, khỏi phải đi ra đi vào mà tổn mất nhiều tiền cuớc. Bà xuống ở Hà-nội được hai ngày, may gặp và làm quen được với một bà chủ tiệm hàng kia. Bà chủ tiệm hàng thấy bà là người tử-tế, cũng có dạ yêu bà, nên cầm bà ở lại chơi vài bữa. Bà nhơn thấy bà chủ tiệm tánh tình vui vẻ, ăn nói bải-buôi, ý bà cũng mến, phần thì bà muốn làm quen, nên cũng phải chìu lòng, ở nán chơi vài bữa.
Đêm ấy không hiểu tại sao mà trong lòng bà nóng nảy, lo sợ phập-phồng, làm cho bà thao thức xốn xang, đi ra đi vào, nằm không yên giấc; lại thêm con mắt máy lia, thịt nơi cánh tay cũng giựt lịa; bà bèn nghỉ lại bà huyện là em dâu của bà ở trên Bắc-ninh đó không phải là người từ-thiện, còn hai cô con của bà thì tuổi hởi thơ-ngây, bà đi hai bữa rày, không biết ở nhà có chuyện chí lành dữ thể nào mà đêm nay nó khiến cho bà bứt-rứt xốn-xang như vậy; vì vậy mà bà không chờ đến sáng mai mà đi xe lửa cho được, nên bà nói với bà chủ tiệm, xin cho người đi mướn giùm cho bà một cái ô-tô, rồi bà vội vàng từ giả bà chủ tiệm; hối sốp-phơ chạy riết về Bắc-ninh.
Khi xe bà vừa về tới nhà bà huyện thì đã gần 4 giờ khuya, chánh là lúc bọn gian-nhân vừa muốn trói hai cô con của bà; chúng nó nghe xe bà về tới và tiếng bà kêu cữa thì thất kinh, nên cứ việc khiên nhầu đem ra bỏ đại trên xe, quất ngựa chạy càn, chớ chưa kịp trói. Chúng nó đi rồi thì bà huyện lại trở vào phòng mình, nằm trơ như chết, giả rằng mình cũng bị thuốc xông đó mà mê.
Còn bà phủ ở ngoài cữa trước, chưa hay chưa biết chi hết, cứ việc gõ cữa kêu hoài mà không nghe ai lên tiếng, trong lòng phát nghi, bà lại càng kêu thúc tới mãi, mà cũng chẳng thấy động tịnh chi hết, bà lấy làm lạ, bèn tính đi vòng ra phía sau, đặng kêu đứa ở. Chẳng dè bà ra đến phía sau thì thấy cữa sau không đóng, còn đứa ở thì nằm ngủ chinh chòng. Bà liền kêu giựt nó dậy mà hỏi, thì coi ý nó lơ-láo như đứa mất hồn, cứ ú-ớ hoài, chớ chẳng biết chi mà nói.
(Thằng nầy cũng bị thuốc mê, song nó nằm xa hơi khói nên nhẹ.)
Bà dòm lên nhà trên, thấy đèn còn chong mà cữa nẽo gì cũng mỡ hoát, bà hoãng kinh, liền đi thẳng lên nhà trên, bước ngay vào phòng chỗ hai cô con bà ngủ đó; té ra phòng không mỡ hoát bóng người vắng tanh. Chừng ấy bà lại càng thất kinh hơn nữa, liền xách đèn đi kiếm khắp trong nhà, mà cũng không thấy tăm dạng gì, mà bà lại nghe có hơi khói chi bay mùi sao lạ mủi quá. Bà liền bước đại vào phòng mà kêu giựt bà huyện, ai ngờ bà huyện lại nằm ngũ cũng mê-man như chết, kêu mấy thì kêu, giựt bao nhiêu thì giựt, bà cũng không ư hử gì. Lúc nầy bà phủ lại càng bối rối hơn nữa; bà vùng sực nhớ lại mùi khói, liền đi kiếm mà coi khói ấy ở đâu, té ra khói ấy tự trong phòng của hai cô con bà mà bay ra, bà bèn vào đó mà coi, ai ngờ hễ bà bước gần đến chỗ khói ấy chừng nào thì bà nghe trong mình bà có hơi ngầy ngật, bà liền hội ý, biết đó là thuốc xông cho mê; nên bà đã tự biết rằng: Đây chắc là có quân gian nào đem thuốc đến xông mê cả nhà rồi bắt hết cả hai cô con của bà mà đem đi đâu rồi. Nghĩ tới đó thì bà sảng sốt, bèn la khóc om sòm, truy hô lên, xóm diềng đều chạy tới, kẻ lo giải mê cho bà huyện, người lo đi cáo báo với quan; quan liền sai người, lớp thì lính, lớp thì làng, phân nhau kẻ đầu nầy người ngã kia chạy theo tìm bắt.
Đây nhắc lại việc Đào-duy-Thạt với một lũ côn-đồ đem hai chị em Từ-mộ-Trinh và Trần-lệ-Dung ra bỏ lên xe, nhơn lúc hoảng hốt, vì nghe tiếng bà phủ đã về kêu cũa, nên lật đật mà không kịp trói hai chị em nàng, cứ khiên bỏ nhầu lên xe, rồi hối nhau quất ngựa chạy dộng lên rừng.
Chạy một đỗi rất xa, mặt trời đà lố mọc, tới một chỗ đường rừng, núi non vắng vẽ, Đào-duy-Thạt bèn khiến dừng xe mà nghĩ ngựa, đặng nhắm chừng đường mà tìm đến nhà người bạn-hữu của mình. Chẳng dè lúc ấy hai chị em đã lần lần tỉnh lại, phần bị mặt trời mọc lên, nắng chói ngay vào mặt, Lệ-Dung giựt mình, liền mở mắt ra, ngó thấy tư bề rừng núi xanh um, không hiểu bỡi sao mà mình lại phải nằm giữa rừng hoang như vậy, bên tai lại nghe có tiếng đờn-ông nói chuyện rất đông; nàng bèn liếc mắt xem coi, thấy một tốp ước 8, 9 người đờn-ông, mà trong bọn ấy lại có Đào-duy-Thạt. Trần-lệ-Dung hội ý, vùng lồm-cồm ngồi dậy, nhảy đại xuống xe. Đào-duy-Thạt xem thấy giựt mình, liền hô bắt trói. Tám chín tên du-đảng áp lại vây chặc Lệ-Dung; lúc bấy giờ, một mình nàng tả đụt hữu xông, không nao không núng, còn nàng Mộ-Trinh thì chỉ cứ kêu cứu om sòm.
Tội nghiệp cho Trần-lệ-Dung, một mình nàng là gái, mà cự với 8, 9 đứa côn-đồ, tuy là nàng vỏ-nghệ tinh-thông, song ít mà cự với đông, cũng khó thắng cho nỗi được, phần thì bị thuốc mê, trong mình còn ngầy ngật, nên cũng khó nỗi duy trì, tay chơn bãi hoãi, mệt đã đuối hơi; nàng tự độ trong mình, chắc là phải lầm tay quân gian ác.
Lúc đang nguy cấp, bỗng đâu lại có một người trai-tơ, ở nơi mé đường rừng, cởi ngựa chạy tới, nhảy xuống buộc ngựa bên đường, rồi xốc vào giải vây, đánh đá tưng bừng. Lệ-Dung thấy có người đến cứu, thì nàng mới vững lòng, khí-lực bội gia, nên nàng cũng nổ lực tung hoành, làm cho bọn Đào-duy-Thạt ngã lăn, kẻ u tráng người lọi tay, cả bọn đều hoảng kinh, chẳng kể tới ngựa xe, chỉ có dắc nhau tìm đường, mạnh ai nấy chạy. Người trai tơ ấy rược theo một đỗi xa, rồi mới quày trở lại, đặng hỏi thăm coi hai nàng ấy con gái nhà ai, xem y-phục thì biết là người ở Nam-kỳ, đi đâu ra tới ngoài nầy mà lại bị lũ côn-đồ nó hiếp bức như rứa. Hai chị em Mộ-Trinh bèn tạ ơn người ấy, rồi mới đem hết đầu đuôi các việc của mình ra mà thuật lại một hồi; người ấy nghe rỏ trước sau, trong lòng nỗi nóng, giận vì quân lang-tử giả-tâm, thường hay đam cái giả-man thủ đoạn ấy ra mà hiếp bức gái lành, liền muốn thét lên ngựa rược theo, quyết giết cho sạch bọn hung-đồ mà răn loài bất-nghĩa.
Hai chị em vẫn còn nghỉ tình cậu mợ của mình, nên kiếm lời khuyên giải cho qua; nhơn thấy người ấy là trai, tuy đã có ơn với mình, mà nơi chốn non cao rừng rậm, vắng vẽ không người, đối với hai chị em là gái đương xuân, cứ giữ một mực từ nghiêm nghĩa chánh, thiệt rỏ ràng là hào-kiệt trượng-phu; hai chị em Mộ-Trinh kính phục chẳng cùng, bèn hỏi thăm tên họ và quê-quán cho biết ở đâu, để phòng sau chờ ngày đền đáp.
Người ấy bèn tỏ hết lại-lịch của mình, té ra chàng là Nguyễn-hạo-Nhiên, quê-quán tại Qui-nhơn, từ ngày gặp được Đỗ-khắc-Xương mà kết bạn với nhau, hai bên ý hiệp tâm đầu, như ngư đắc thủy; ngặt vì chàng Đỗ gắp đi ra Bắc thăm cha, cho nên anh em gặp gở chưa được phỉ tình, mà phải lìa nhau đã trót hai năm trời, không biết chàng đã về Nam hay còn ở Bắc, mà biệt tích vắng tâm, vì thương nhớ nhau nên mới ra Bắc mà tìm; ngày ấy đương buổi bình minh, khí trời mát mẻ, một người một ngựa rảo bước thung dung; mảng xem nước bích non xanh, bổng nghe có tiếng người kêu cứu, liền giục ngựa buông cương, chạy riết tới đó mà cứu được hai chị em nàng, đầu đuôi thuật hết một hồi.
Trần-lệ-Dung nghe rỏ lai-lịch của chàng, bèn động niềm tâm-sự, trong lòng lưởng lự, bán tín bán nghi, liền đánh bạo mà hỏi người ấy rằng: « Nảy giờ em nghe ân-huynh tự xưng là người Bình-định, quí-danh là Nguyễn-hạo-Nhiên, lại là con của quan tiền nhậm Tri-phủ Qui-nhơn, vậy mà ân-huynh có biết ông Trần-xuân-Khôi là Huấn-đạo, cũng đồng ở một làng với ân-huynh và cũng làm quan đồng thời với Lịnh-tiên-công hay chăng? » Hạo-Nhiên nghe nàng hỏi dứt lời, vùng sa nước mắt, hồi lâu rồi mới nói rằng: « Ông ấy là Nhạc-thân của tôi, từ ngày ông bị cách một lược với tiên-nghiêm tôi, rồi ông buồn lòng dắc hết gia-quyến vào ở Nam-kỳ, sau nghe hai ông bà đà tị thế, lịnh-ái của ông mỷ-danh là Trần-lệ-Dung, tức là người mà ông đã định gả cho tôi, không biết lưu lạc nơi nào, âm hao vắng bặt; từ ấy nhẩng nay tôi không biết nàng ở đâu mà tìm cho được. Nói tới đây tôi cũng ngùi ngùi mà thầm tủi cho cái phận của nàng một thân cô khổ, đất khách quê người, nói tới chừng nào gan bào ruột thắt; chí như cô là người ở Nam-kỳ, chẳng hay cô có bà-con quen-lớn chi sao mà biết được ông Trần-huấn-đạo? »
Lệ-Dung nghe rỏ hết trước sau liền xé cái đảy đương đeo trong mình, lấy tờ di-chúc của cha mình để lại, mở ra mà coi,, biết quả là chàng, nên nàng cũng nghẹn ngào, khóc lở khóc, cười lở cười, cứ nhìn sững Hạo-Nhiên, hai hàng nước mắt rưng rưng, không nói rằng chi được hết. Còn Từ-mộ-Trinh nghe rỏ đầu đuôi, biết chàng là phu-tế của Lệ-Dung, lại là bạn hữu của Khắc-Xương, trong lòng mừng rở chẳng cùng, bèn nói rằng: « Em tôi đây là Trần-lệ-Dung, còn ân-nhân là Nguyễn-hạo-Nhiên, tình cờ mà gặp, thiệt quả lòng trời còn vâng hộ người ngay, lại thêm hai đàng chẳng những là có lời đính-ước của mẹ cha, mà cũng có tiền-duyên túc-trái chi đây, nên mới khiến cho Đào-duy-Thạt nó đồ mưu thiết kế, bắt hai chị em tôi mà đem tới chỗ nầy, cho vợ chồng đường xa muôn dặm, mà được gặp nhau như vầy, thiệt rỏ ràng là thiên hạnh đó. » Nói tới đó rồi lại đam hết những việc của Lệ-Dung từ ngày cha mẹ nàng bất hạnh mà qua đời, vì nàng còn nhỏ, lại thêm côi-cút một mình, cho nên bao nhiêu sự nghiệp cữa nhà đều bị những bọn bất lưong nó đoạt hết, lại còn bắt nàng đem đợ cho cha mẹ mình; lúc ấy nàng vẩn biết cái số kiếp của nàng phải chịu đọa đày một lúc, nên nàng cũng an lòng chịu vào ở đợ với cha mẹ mình; may nhờ cha mẹ mình thương nàng mà nhìn nhận làm con, chị em lại yêu mến nhau v.v... đầu đuôi gốc ngọn, thuật rỏ một hồi, lại lấy tờ di-chúc của cha nàng Lệ-Dung mà trao cho Hạo-Nhiên xem. Hạo-Nhiên nghe rỏ trước sau, lại thấy tờ di-chúc căn-cứ đã rỏ ràng, liền cúi lạy Mộ-Trinh mà tạ lòng nhân hậu của nàng đối đải với Lệ-Dung tự bấy lâu nay. Mộ-Trinh bèn day lại nói với Lệ-Dung rằng: « Nầy em, nay may gặp được ân-nhân mà chị em ta đã tai qua nạn khỏi rồi, song không biết mẹ mình đi xuống Hà-nội đã về chưa, nếu mẹ mình về tới Bắc-ninh mà không thấy chị em mình, thì chắc sao mẹ mình cũng kinh hồn hoảng vía, lo sợ lung lắm đa em à! Vậy phải tính sao bây giờ? »
Lệ-Dung nói: « Vã đây mà về Bắc-ninh thì gần, còn đi xuống Hà-nội thì xa, vậy bây giờ chị em ta phải trơ lại Bắc-ninh mà dọ nghe coi động tịnh thé nào, nếu mẹ mình còn ở dưới Hà-nội thì chị em mình sẽ đi thẳng xuống Hà-nội mà tìm cũng chẳng muộn chi » Hạo-Nhiên cũng gặt đầu mà cho rằng phải, chị em bèn nhứt định trở lại Bắc-ninh. Mộ-Trinh lại mời Hạo-Nhiên về theo cho mẹ mình biết mặt, sẵn có xe ngựa của bọn Đào-duy-Thạt còn bỏ lại đó, hai chị em bèn lên xe ấy, Lệ Dung cầm cương giục ngựa đánh xe đi trước, Hạo-Nhiên cởi ngựa huởn-huởn theo sau, bảo hộ hai chị em nàng lần đường trở lại Bắc-ninh mà tìm mẹ.
Khi về gần tới Bắc-ninh, đi dọc đàng, nghe hai bên thiên-hạ cứ chỉ trỏ hai chị em mà nói với nhau rằng: « Hai cô nầy đây, chắc là hai cô nầy. » Người khác lại nói rằng: « Phải rồi, hai cô đó đa. » Hai chị em thấy vậy thì lấy làm lạ, bèn dừng xe lại, hỏi coi duyên cớ làm sao, họ lai chỉ mình mà nghị luận với nhau như thế. Trong đám ấy có một bà già, bước lại gần nhìn sửng hai chị em rồi nói rằng: Số là đêm nay có quân gian ác nào đó, đem thuốc mê đến xông nơi nhà bà huyện, rồi bắt mất hai cô cháu-gái của bà. Bà mẹ của hai cô ấy đi Hà-nội về, thấy chúng bắt mất cả hai cô con thì than khóc om sòm, rồi lại đi cáo quan; hiện bây giờ đây, quan còn đương tra hỏi lung-tung nơi nhà bà huyện. Nghe nói ba mẹ con bà ấy là người Nam-kỳ, nay mấy người nầy họ thấy hai cô đều bới tóc, họ biết là người Nam-kỳ mà định chừng là hai cô bị bắt đó, nên họ mới nghị luận lăng xăng như thế đấy. » Hai chị em nghe nói rỏ ràng thì biết mẹ mình còn đang ở nơi nhà bà huyện; liền nói cho Hạo-Nhiên hay rồi quất ngựa chạy dông về nhà bà huyện.
Nhằm lúc quan còn đang tra hỏi bàn cận hai bên, bà phủ cũng còn đang than khóc ní-non ní-nọt. Hai chị em liền bước xuống xe chạy đại vào nhà, miệng kêu má, má, lăng xăng, còn tay thì ôm lấy mẹ mình rồi cũng khóc oà, nước mắt tuôn ra như suối chảy. Bà phủ đang khóc ní-non, bổng nhiên trông thấy hai con, mừng tủi dập dồn, làm cho bà lại càng sửng sốt nghẹn ngào hơn nữa. Một chặp lâu bà phủ mới định tỉnh tâm thần, bèn vuốt ve hai cô con mà hỏi thăm sau trước. Mộ-Trinh thuật sơ lại cho mẹ nghe, song vì trước mặt bà huyện, nên nàng cũng chẳng nói tới tên Đào-duy-Thạt. Rồi đó nàng lại mới Nguyễn-hạo-Nhiên vào mà trình diện cho mẹ mình biết và thuật việc cha mẹ hai đàng vẩn đã giao hòa với nhau, lại lấy tờ di-chúc của cha Lệ-Dung để lại mà trao cho mẹ coi. Bà phủ nghe rỏ trước sau, lại thấy Nguyễn-hạo-Nhiên hình dung tuấn nhả, diện mạo khôi ngô, rồi bà nhìn lại Lệ-Dung, thiệt rỏ ràng là một cặp giai-nhân tài-tử, đôi đã xứng đôi, bà mừng vui chẳng xiết.
Lúc bấy giờ, quan còn đang tra xét, thấy hai chị em nàng lại đã được về, bèn day lại gạn hỏi hai nàng đặng cho biết tung-tích đứa gian để sai người tầm nả. Trần-lệ-Dung bèn đem đầu đuôi các việc, từ lúc chúng nó xông thuốc và chở đem lên trên rừng, cho đến khi hai chị em tỉnh lại, chống cự với nó, lại may gặp Hạo-Nhiên giải cứu, nhứt nhứt bẩm thiệt một hồi; ngặt vì lạ hết, cho nên không biết rõ mặt mày mà nhìn cho ra được.
(Số là Lệ-Dung vẫn biết trong lúc hổn chiến, nàng đã đánh trúng chỗ nhược của Đào-duy-Thạt; tuy hắn không chết, song mà rồi đây hắn cũng trở ra một đứa tàn-tật trọn đời, thân sống như thân chết, cũng đã đáng cái tội ác của hắn rồi. Nên chẳng cần phải khai bẫm với quan làm chi cho mít lòng mợ mình là bà huyện; mà rồi chi cho khỏi hắn bị quan bắt buộc mà hỏi tra, mình tuy là tiên cáo, song cũng phải bị đòi tới đòi lui, lẳng-nhẳng nhiều ngày mà thêm bận, nên nàng bỏ biệt tên hắn mà chẳng khai ra, chỉ cứ nói là quân hoang nào ở đâu, mình không biết mặt mày, đặng bỏ qua cho rồi việc)
Quan hỏi tới Hạo-Nhiên, thì chàng lại bẫm rằng chàng ở Trung-kỳ mới ra, cũng chẳng biết được mặt mày những quân hoang ấy.
Khi quan lấy lời khai xong mà về rồi, thì hai chị em Mộ-Trinh mới to nhỏ với mẹ mình mà tỏ thiệt những việc mợ dâu mình dung túng thằng cháu trai là Đào-duy-Thạt làm những đều nhẫn tâm hại lý, nhục cho danh-giáo vậy vậy...... rồi khuyên bà phải lo dời đi ở chỗ khác cho mau. chớ có ở đó nữa làm chi, e sau nó còn sanh nhiều đều biến trá. Bà phủ nghe rỏ trước sau thì bà giận lắm, song bà cũng dằn lòng ẫn nhẫn, chẳng nói tiếng chi cứ lo thu xếp đồ đạt, rồi giả từ bà huyện, 4 mẹ con đề huề, dắc nhau ra xe trở xuống Hà-nội.
Khi xuống tới nơi rồi, bà phủ bèn bảo Mộ-Trinh viết một phong thơ gỏi lên Cao-bằng cho quan huyện là em của bà mà tỏ những việc như vậy cho ngài hay và từ giả luôn mà trở về Nam-kỳ chớ không thế nào mà ở chờ cho chị em gặp mặt được. (Quan huyện Nguyễn-hữu-Thân được thơ, hay rỏ công việc như vậy thì giận thằng cháu vợ là Đào-duy-Thạt vô cùng. Đến sau khi ngài mãn nhậm mà trở về Bắc-ninh, thấy Đào-duy-Thạt vì bị đánh lúc nọ mà đã ra thân què-trệt có đi đâu thì phải lết mà đi; tội ác của hắn đã đền rồi, nên ngài cũng chẳng biết nói làm sao, phải bỏ qua cho hắn; ấy là việc sau).
Đây nhắc lại mẹ con bà phủ, khi gởi thơ cho em rồi thì bà lại đi vào nhà Băng lãnh hết số bạc của bà gởi ra, lo mua đồ hàng nhiểu, lược, the, để đem về Nam mà bán. Còn Nguyễn-hạo-Nhiên thì lo đi hỏi thăm tin tức của Đỗ-khắc-Xương; té ra nghe nói năm nọ chàng ra có vài tháng, rồi cha con dắc nhau đi tàu mà về Nam-kỳ là nội lúc đó rồi; lại nhơn đi đường biển, nên không ghé được mà cho Hạo-Nhiên hay. Bỡi đó cho nên Hạo-Nhiên không rỏ âm hao, nên mới đi phóng chừng, thời may lại gặp mà cứu hai chị em khỏi nạn; ấy rỏ ràng là cũng tại lòng trời, chớ không phải việc ngẩu nhiên mà được vậy.
Rồi đó Hạo-Nhiên bèn thưa cùng bà phủ, xin đi đường bộ mà về trước vài ngày, đặng lo thu xếp việc nhà rồi ở tại Qui-nhơn mà chờ tàu vô tới đó, chàng sẽ tháp tùng một chuyến tàu mà về theo trong Nam-kỳ, đặng có tìm kiếm bạn lành là Đỗ-khắc-Xương luôn thể.
Khi Hạo-Nhiên đi rồi, ba mẹ con bà phủ còn phải ở lại Hà-nội hơn trót một tuần mà chờ tàu; đồ đạt mua chác đâu đó xong xuôi. hỏi thăm ngay tàu chạy đã chắc chắn rồi mới đề huề đem đồ ra xe lửa đi xuống Hải-phòng, rồi mới mướn cu-li chở ngay xuống tàu.
Sáng ra bữa sau, lối 4 giờ khuya, tàu mới lấy neo, may nhờ trời êm gió thuận, tàu chạy thẳng thét hai ngày một đêm mới vào tới cữa Hàng, tàu gieo neo đậu đó mà lấy thơ và nghĩ máy vài giờ, rồi mới lấy neo mà chạy; ước độ chừng 6, 7 giờ nữa mới tới Qui-nhơn.
Tàu tới cữa Qui-nhơn, gieo neo đậu lại rồi. Nguyễn-hạo-Nhiên ở dưới ghe bầu xách đồ hành-ly bước lên, lại có đem theo một tên gia-nhân để phòng sai khiến. Hai đàng gặp nhau mừng rở, lo an trí đồ đạt vừa xong thì tàu đã lấy neo; chạy trọn một đêm ngày mới tới bến Saigon.
Bà phủ bèn hối con mướn xe chở đồ hành-lý thẳng vô lối cầu Rạch-bần mà ở nhờ ít ngày nơi nhà ông Phán Hạp là người bà-con của bà, rồi sau sẽ lo kiếm mướn một căn phố để ở mà buôn bán. Bà lại bảo Lệ-Dung viết thơ gởi về Mỷ-tho mà hỏi thăm tin tức Đỗ-khắc-Xương.
Khi an trí đồ đạt xong, Nguyễn-hạo-Nhiên bèn thưa với bà, rồi mướn xe kéo đi ra chợ Sài-gòn giạo chơi cho biết. Chẳng dè, khi nên trời cũng chìu ngưòi, xe ra tới chỗ sân rộng nơi trước Chợ-mới, vừa muốn quanh lại chợ, Hạo-Nhiên vùng ngó thấy một người đương đi trên lề đường (trottoir) giống dạng Khắc-Xương, liền bảo xe ngừng lại, rồi bước xuống vừa chạy theo vừa kêu. Đỗ-khắc-Xương nghe kêu, liền day mặt lại, anh em gặp nhau mừng vui chẳng xiết, bèn dắc nhau tìm vào quán rượu, kêu bồi đem rượu li-mỏ-nách (limonade) ra, hai anh em bèn ngồi lại uống cầm chừng mà chuyện vãn với nhau. Hạo-Nhiên đem hết những việc mình thương nhớ Khắc-Xương nên phải ra ngoài Bắc mà tìm, may đâu lại gặp chị em Mộ-Trinh mắc nạn mà cứu được, rồi theo ba mẹ con bà phủ đặng vào Nam-kỳ mà tìm Khắc-Xương, đầu đuôi các việc thuật hêt một hồi. Khắc-Xương nghe nói cảm tạ chẳng cùng, rồi cũng đem hết những việc của mình mà thuật lại cho Hạo-Nhiên nghe; lại nói: Hôm nay mình lên Sài-gòn đây là cũng vì đau mới mạnh, chưa làm gì được, nhà còn một mẹ già và hai đứa nhỏ, thiếu trước hụt sau, gia-tài còn có nữa láng quế, mẹ mình thấy nhà thúc-múc, bảo đem đi bán, mà bán dưới Mỷ-tho không được, nên phải đem lên Sàigòn mà bán, để lấy đồng tiền đem về mà đở ngặt trong lúc nầy, không dè bất kỳ nhi ngộ, thiệt cũng là may. Hạo-Nhiên nghe rỏ trước sau, cũng hết lòng cám cảnh. Rồi rủ Khắc Xương đi theo với mình vô cầu Rạch-bần mà thăm ba mẹ con bà phủ. Đỗ-khắc-Xương xét mình nghèo khổ, e nổi tình đời ấm lạnh, nên chàng chẳng muốn đi. Hạo-Nhiên bèn đem hết những việc của mẹ con bà phủ có lòng hoài vọng và nhắc nhở mà thuật lại cho Khắc-Xương nghe, lại nói: Nếu anh chẳng đi thì té ra anh lại phụ tấm lòng trinh-bạch của nàng và cái ơn châu-toàn của bà phủ. Đỗ-khắc-Xương nghe Hạo-Nhiên nói lắm, nên phải gắng gượng đi theo.
Còn ba mẹ con bà phủ ở nhà. đương ngồi trò chuyện với nhau, bà tính hể tìm được Đỗ-khắc-Xương rồi thì bà sẽ cho hai cặp thành hôn một lược. Còn đương bàn luận với nhau, bổng thấy hai cái xe kéo chạy đến đậu ngay trước cữa. Bà chưa biết xe ai, liền đứng dậy ngó ra, chừng coi lại, té ra là Hạo-Nhiên với Khắc-Xương, đắc nhau về một lược.
Thiệt là việc không ngờ, thình lình mà lại gặp, rỏ ràng là cái máy nhiệm của Hoá-công, dầu cho tan hiệp hiệp tan, cũng một tay người sắp đặt. Bà phủ thấy Đổ-khắc-Xương thì mừng vui chẳng xiết, bèn bảo chàng ngồi lại cho bà hỏi thăm việc nhà của chàng từ ấy đến nay, bề ăn ở làm sao, mẹ chàng mạnh giỏi lẽ nào; Đỗ-khắc-Xương bèn đem hết đầu đuôi gốc ngọn mà thuật lại một hồi; bà phủ nghe nói ngùi ngùi, còn Từ-mộ-Trinh ở trong buồng nghe rỏ trước sau, cũng sụt sùi lụy ngọc. Bà phủ cũng thuật việc nhà của bà lại cho chàng nghe, chừng ấy Đỗ-khắc-Xương mới hay quan phủ đà tạ thế Bà lại kêu Mộ-Trinh ra, hai đàng thấy nhau, khóc lở khóc, cười lở cười; chỉ cứ nhìn nhau mà rưng rưng nước mắt.
Rồi đó bà phủ bèn bảo Khắc-Xương dắc Hạo-Nhiên về Mỷ-tho mà thưa trước cho mẹ chàng hay, để ba mẹ con bà ở lại Saigon ít ngày mà bán cho hết hàng, rồi bà sẽ về sau đặng tính việc hôn nhơn cho bốn trẻ.
Đỗ-khắc-Xương với Hạo-Nhiên vâng lời, liền từ tạ ba mẹ con bà, rồi dắc nhau về Mỷ-tho. Về đến nhà rồi Đỗ-khắc-Xương bèn đem hết những việc mình gặp bạn củ là Hạo-Nhiên và ba mẹ con bà phủ tại Saigon, cùng những lời bà phủ đinh-ninh dặn dò mà thưa lại cho mẹ mình hay; Hạo-Nhiên cũng vào lạy mừng bà, kêu bà bằng bá-mẩu (bác gái). Đoàn-thị bấy lâu tuy đã có nghe con nói lại, song chưa thấy được mặt mày, nay mới biết Hạo-Nhiên, nên bà cũng mừng cho con bà may được gặp bạn hiền và vợ nghĩa.
Cách ít ngày bà phủ bán đã hết hàng, mẹ con bèn từ giã vợ chồng ông Phán Hạp rồi dắc nhau về Chợ-gạo. Đoàn-thị mừng rở, ra đón rước vào nhà, chị em trò chuyện với nhau, nhơn nói qua tới việc lứa đôi, thì bà Đoàn-thị lại càng cãm tình bà phủ. Hai bà bàn tính với nhau xong xuôi, cậy người chọn được ngày lành, dọn dẹp nhà cữa và sắp đặt cổ bàn, mời hết xóm-diềng và họ-hàng bà-con thân-thích đến, rồi cho 4 họ là: Đỗ-Từ Trần-Nguyễn làm lễ từ-đường và động phòng huê chúc.
Khi xong việc đám cưới rồi, bà phủ bèn xuất bạc ra mua cây mua ván mà sữa cái nhà lại cho rộng rải chắc chắn đặng ở chung với nhau.
Từ đây ơn mặn tình nồng, tài-tử giai-nhân, song song hai cặp; mẹ con chồng vợ, sum hiệp một nhà, trên thuận dưới hòa, trong vui ngoài đẹp; hai bà mẹ thì lo mướn bạn bè mà làm ruộng. Khắc-Xương với Hạo-Nhiên thì dạy học trò trong xóm, còn Mộ-Trinh với Lệ-Dung thì cứ châm nom theo việc nữ-công, mạng vớ thêu khăn, để bán lấy tiền mà đấp đổi cho qua ngày tháng.
Ngày giờ thấm thoát, mới đó mà đã ba bốn năm trời. Bửa kia Đỗ-khắc-Xương đương ngồi trong nhà mà đàm luận thế-tình với Nguyễn-hạo-Nhiên, bổng thấy một tên lính làng đem đến một phong thơ, đề tên họ của mình rõ ràng, nơi góc cái bao thơ có mấy hàng chữ in; coi kỷ lại thì biết là thơ của quan Nô-te (Notaire) ở Hà-nội gởi đến cho mình, Đỗ-khắc-Xương không hiểu ý chi, bèn mở ra mà xem.
Thơ như vầy:
« Hanoi, le................. 19...
« Monsieur Đỗ-khắc-Xương,
« Ta là quan No-te ở tại Hà-nội, kính cho thầy hay rằng ông Hoàng-hữu-Tâm ở tại Hà-nội, trước khi lâm chung, ông có giao cho ta một số bạc là hai chục ngàn đồng, với một tờ chúc-ngôn, ông dặn ta trao lại cho thầy. Ấy vậy, hễ thầy được thơ nầy rồi thì thầy phải lập tức đến tại phòng việc của ta mà lãnh lấy số bạc với tờ chúc-ngôn ấy, chớ nên trì huởn, ta hết lòng trông đợi tin thầy.
« Bấy nhiêu lời cho thầy rõ. »
« Ký tên........
Đỗ-khắc-Xương đọc dứt thơ rồi, cả nhà đều chưng hững, không hiểu bỡi sao mà ông Hoàng-hữu-Tâm khi gần qua đời, lại để bạc mà cho Khắc-Xương nhiều như vậy, làm cho ai nấy cũng sửng sờ. Một chặp lâu bà Đoàn-Thị bèn nói với Đỗ-khắc Xương rằng: « Hoặc là lúc cha con ra ở ngoài Bắc, có làm việc gì với anh Phán chăng, vậy thì con cũng phải đi ra đó đặng coi cái tờ chúc-ngôn của anh Phán thể nào cho biết. » Đỗ-khắc-Xương nghe nói có lý, nên phái vâng lời, liền sắm sữa hành-lý rồi từ giả hai mẹ (mẹ ruột và mẹ vợ) với vợ và vợ chồng Hạo-Nhiên, rồi cũng dắc thằng Hành theo cho có bạn mà đi ra Bắc.
Khi ra tới Hà-nội rồi, bèn tìm đến phòng việc quan Nô-te, đem cái thơ của Nô-te gỡi cho mình hôm nọ và những giấy tờ chứng chắc rằng mình thiệt là Đỗ-khắc-Xương mà trình ra cho quan Nô-te xem.
Quan Nô-te liền mời Đỗ-khắc-Xương ngồi lại cho ông xem xét giấy tờ kỷ-lưởng, rồi mới đứng dậy đi mở tủ sắt, lấy bạc ra đếm đủ hai chục ngàn đồng với một tờ chúc-ngôn, bảo Đỗ-khắc-Xương ký tên nhận lãnh rồi giao hết cho chàng. Đỗ-khắc-Xương lãnh bạc xong xuôi rồi, liền mở tờ chúc-ngôn ấy ra mà xem, thấy rỏ ràng là tuồng chữ của ông Phán Tâm.
Tờ chúc-ngôn ấy như vầy:
« Hà-nội, ngày.................19...
« Tôi đứng ký tên dưới đây là Hoàng-hữu-Tâm, Thầu-khoán tại Hà-nội, làm tờ chúc-ngôn nầy để lại mà cho tên Đỗ-khắc-Xương là người ở làng.... tổng.... tĩnh Mytho (Nam-kỳ) một số bạc là hai chục ngàn đồng.
« Nguyên vì trong năm 19... tháng... ngày... cha nó là Đỗ-khắc-Thới với tôi có tìm được một mỏ đồng tại Sơn-la, lúc ấy anh em tôi có giao ước miệng với nhau, quyết chung sức nhau lại mà khai cái mỏ ấy, hễ ngày sau được lợi bao nhiêu thì chia nhau mà hưỏng.
« Chẳng dè công việc chưa kịp khởi ra mà ông Đỗ-khắc-Thới rủi thọ bịnh trở về Nam-kỳ rồi qua đời luôn trong ấy.
« Từ ấy đến nay trót đã 5 năm, một mình tôi lo mướn dân thợ khai mỏ ấy mà thủ lợi.
« Nay tôi tính sổ, khấu trừ hết các khoản chi phí và thuế-vụ, thì còn lại một số tiền lời chắc chắn là bốn vạn đồng.
« Xét vì ông Đỗ-khắc-Thới với tôi là bạn thiết, tuy ông không có công khai, mà ông có công tìm được; tuy không có giấy tờ chi hết, song một lời giao-ước với nhau như ghi vô đá, chạm vô đồng, dầu cho muôn đời ngàn kiếp cũng chẳng nên quên; chớ tưởng rằng không ai hay biết, không có bằng cớ chi mà chiếm hưởng lấy một mình, thì còn mặt mũi nào mà dám nhìn nhau nơi chín suối.
« Bỡi giữ lòng chơn-chánh và tín-nghĩa với nhau, nên tôi đành chia hai cái số bạc lời 4 vạn ấy ra, để lại cho con tôi một nửa, còn một nửa thì cho con trai ông Đỗ-khắc-Thới là Đỗ-khắc-Xương cho tròn cái nghĩa-vụ, vân vân...................... »
Hoàng-hữu-Tâm ký tờ.
Đỗ-khắc-Xương xem hết tờ chúc-ngôn ấy rồi thì trong lòng ngùi ngùi, rất cãm cái lòng khẳng-khái và tín-nghĩa của ông Hoàng-hữu-Tâm. Liền từ tạ quan Nô-te, rồi dắc thằng Hành đến nhà ông Hoàng-hữu-Tâm mà thăm vợ con ông, và xin vào lạy bàn thờ, rồi ra lạy mồ mã của ông để tỏ tấm lòng hoài cãm
Đâu đấy xong rồi. thầy trò Đỗ-khắc-Xương bèn từ tạ vợ con ông Hoàng-hữu-Tâm mà trở lại Nam-kỳ.
Khi về đến nhà rồi Đỗ-khắc Xương bèn đọc hết tờ chúc-ngôn và thuật rỏ tấm lòng hào-hiệp, trọng nghĩa khinh tài của ông Hoàng-hữu-Tâm lại cho ai nấy nghe; cả nhà đều hết lòng kính phục.
Rồi đó Đỗ-khắc-Xương mới bàn tính với Hạo-Nhiên, muốn dùng số bạc ấy anh em chung sức với nhau, lập một cuộc buôn bán dừa khô và lúa.
Hai anh em thương lượng với nhau xong rồi mới thưa lại cho hai bà mẹ hay. Hai bà thấy con rể có chí dinh thương như vậy thì cũng có bụng mừng.
Chẳng dè năm ấy khí trời độc địa, thiên hạ bao nhiều, cô của Đỗ-khắc-Xương là Đỗ-thị-Bườn xuông dịch nặng mà thác. Vợ chồng Đỗ-khắc-Xương bèn thưa với mẹ đặng đến mà chịu tang. Đoàn-Thị thấy dâu con cư xử như vậy thì khen rằng: « Phải đa con, vợ chồng con biết xữ nghĩa như vậy thì phải lắm đa; bề nào nó cũng là cô ruột của con, nó có ở quấy thì để cho trời, chớ vợ chồng con là cháu, thì phải giữ cho tròn phận cháu. » Đỗ-khắc-Xương bèn bảo vợ lo mua sắm lễ-vật đặng đem đến mà chịu tang, bỡi biết tánh-tình của ông giượng rể, nên vợ chồng cũng phải mua vải đem theo mà bịt khăn, chớ để lấy vải của va mà bịt khăn thì chắc là va thót ruột.
Khi tống táng xong rồi mà trở về nhà, đi dọc đàng, Tám-Chỉnh bước xớ-rớ, rủi sao lại đạp nhằm con rắn; bị nó mỗ trúng bàn chơn, Tám-Chỉnh vùng la hoảng lên, ai nấy đều thất kinh, bèn xúm nhau lại khiên cậu ta đem về. Vừa về tới nhà thì đã nghe đờm kéo lên ồ-ồ. Đỗ-khắc-Xương liền cho người chạy đi rước ông Tư-Sành là thầy thuốc rắn. Ông ấy chạy tới, coi chỗ dấu rắn cắn và lại coi cặp con mắt của Tám-Chỉnh, rồi lắc đầu mà nói rằng: « Đó là rắn hổ-đất, mà lại nhằm con rắn chữa, nọc đã nhiều mà độc lắm, trể quá rồi, cứu không kịp. » Ông Tư-Sành nói chưa dứt lời mà Tám-Chỉnh đã hồn qui dị lộ.
Nguyên vợ chồng Tám-Chỉnh chẳng có con cái chi hết, cho nên khi nhắm mắt rồi, trong nhà chẳng có một ai; Đỗ-khắc-Xương bèn thưa với làng, xin phải cho người đi báo bẫm cho quan Tòa hay; còn một phía thì lo mua sắm quách-quan mà tẩn liệm.
Buổi chiều ngày ấy, ước lối 4 giờ, có xe ô-tô của quan Lục-sự và quan Trưởng-tòa xuống tới, có một thầy thông-ngôn đi theo. Kêu Xả-trưởng, Hương-thân và Hương-hào đến, dạy kiểm điểm hết sản-vật trong nhà mà biên từ món, lại mở tủ bạc ra đếm hết mà coi, thì những gia-sản của vợ chồng Tám-Chỉnh để lại kể biên như sau nầy:
.mw-parser-output .wst-toc-table{border-collapse:collapse;background-color:transparent;margin:auto;max-width:100%}.mw-parser-output .wst-toc-table td{vertical-align:top}.mw-parser-output .__toc_row_1-m-1 td:nth-child(1),.mw-parser-output .__toc_row_1-1-m-1 td:nth-child(1),.mw-parser-output .__toc_row_1-1-m-1 td:nth-child(2),.mw-parser-output .__toc_row_1-m-1-1-1 td:nth-child(1),.mw-parser-output .__toc_row_1-1-m-1-1-1 td:nth-child(1),.mw-parser-output .__toc_row_1-1-m-1-1-1 td:nth-child(2){text-align:right;white-space:nowrap;padding-right:1em}.mw-parser-output .__toc_row_1-m-1 td:nth-child(2),.mw-parser-output .__toc_row_m-1 td:nth-child(1),.mw-parser-output .__toc_row_m-1-1 td:nth-child(1),.mw-parser-output .__toc_row_m-1-1-1 td:nth-child(1),.mw-parser-output .__toc_row_1-1-m-1 td:nth-child(3),.mw-parser-output .__toc_row_1-m-1-1-1 td:nth-child(2),.mw-parser-output .__toc_row_1-1-m-1-1-1 td:nth-child(3){width:99%}.mw-parser-output .__toc_row_1-m-1 td:last-child,.mw-parser-output .__toc_row_1-1-m-1 td:last-child,.mw-parser-output .__toc_row_m-1 td:last-child,.mw-parser-output .__toc_row_m-1-1 td:last-child,.mw-parser-output .__toc_row_m-1-1 td:nth-child(2),.mw-parser-output .__toc_row_m-1-1-1 td:nth-child(2),.mw-parser-output .__toc_row_1-m-1-1-1 td:nth-child(3),.mw-parser-output .__toc_row_1-1-m-1-1-1 td:nth-child(4){vertical-align:bottom;text-align:right;padding-left:1em;white-space:nowrap}.mw-parser-output .__toc_row_m-1-1-1 td:last-child,.mw-parser-output .__toc_row_1-m-1-1-1 td:last-child,.mw-parser-output .__toc_row_1-1-m-1-1-1 td:last-child{vertical-align:bottom;text-align:right;padding-left:0.5em;white-space:nowrap}.mw-parser-output .__toc_row_m-3 td:last-child,.mw-parser-output .__toc_row_m-1-1-1 td:nth-child(3),.mw-parser-output .__toc_row_1-m-1-1-1 td:nth-child(4),.mw-parser-output .__toc_row_1-1-m-1-1-1 td:nth-child(5){vertical-align:bottom;text-align:center;padding-left:0.5em;white-space:nowrap}.mw-parser-output .__toc_row_first-l td:first-child{text-align:left}.mw-parser-output .__toc_row_first-c td:first-child{text-align:center}.mw-parser-output .__toc_row_first-r td:first-child{text-align:right}.mw-parser-output .__toc_row_2out-1 td:nth-child(1),.mw-parser-output .__toc_row_1-out-1 td:nth-child(2),.mw-parser-output .__toc_row_1-1-out td:last-child{text-indent:-1.50em;padding-left:1.50em}.mw-parser-output .__no_first_col_padding td:nth-child(1){padding-right:0}.mw-parser-output .__no_last_col_padding td:last-child{padding-left:0} Bạc hiện trong tủ là =. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 13.223$70 Những giấy nợ cho vay cọng hết là =. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9.255 00 Bốn sở vườn đáng giá là =. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3 000 00 Năm dây ruộng đáng giá là =. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8.000 00 Bàn ghế, ván, tủ, cùng đồ tạp vật đáng giá là =. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 500 00 Cọng hết được =. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 33 978$70
(Than ôi! vợ chồng Phùng-văn-Chỉnh với Đỗ-thị-Bườn, lúc sanh tiền con cái không ngơ, mà không lo tu nhơn tích đức, để cứ khu-khu một lòng vi phú bất nhơn, cho vay đặt nợ, khắc bạc nhà nghèo, năm chí cuối cứ lo thâu liểm, đem về mà dồn dập cho đầy nhóc cái túi tham; lại không dám ăn dám mặc, cứ bo bo làm mọi mà giữ của cho thế-gian. Đến khi hết số mà phải theo quỉ vô thường rồi, thì một su một điếu cũng chẳng đem theo được, đi lại cũng nắm hai bàn tay không; thế thì cái kiếp phù-sanh nầy như bọt nước, như chiêm-bao, những kẻ tham-lam mà có ráng sức tranh danh đoạt lợi cho lắm đi nữa lại có ích gì!)
Khi quan Lục-sự biên xong sản-nghiệp của Tám-Chỉnh rồi cọng hết thảy được 33 ngàn, 9 trăm, 7 mươi 8 đồng, 7 cắt (33.978 $ 70). Có mấy ông hương-lão ra đứng bẩm với quan Lục-sự xin truất trong số bạc ấy ra 2 trăm đồng, để chi phí về việc chôn cất Tám-Chỉnh. Quan Lục-sự hứa để về bẫm với quan Tòa đã. Rồi đó quan Lục-sự liền niêm phong lại hết, giao cho làng canh giữ mà chờ lịnh quan Tòa.
Quan Lục-sự về rồi, cách qua bữa sau có giấy quan Tòa gỡi xuống cho phép làng truất ra 2 trăm đồng bạc mà tống chung Tám-Chỉnh, y như lời của mấy ông hương-lão đã xin, và dạy làng phải truyền rao cho những người nào mà thiệt là bà-con thân-thích của Phùng-văn-Chỉnh với Đỗ-thị-Bườn, thì phải làm khai cho làng thị nhận chắc chắn rồi đem đến Tòa mà xin thừa nhận những sản-nghiệp ấy.
Lúc bấy giờ, những người ở trong làng trong xóm, ai mà chẳng biết Đỗ-khắc-Xương là cháu ruột của Đỗ-thị-Bườn; mà nhứt là mấy ông hương-lão lại thường hay tới lui nhắc nhở Khắc-Xương, bảo phải làm khai đến Tòa mà xin thừa nhận cái sự-nghiệp ấy. Theo cái thường-tình thì ai cũng đều mừng cho Đỗ-khắc-Xương. Duy có một mình Đỗ-khắc-Xương thì lại nhứt định không thèm lảnh đồng tiền bất nghĩa.
Từ-mộ-Trinh thấy vậy thì khuyên chồng rằng: « Đã biết rằng của ấy là của bất nghĩa cũng phải đó chúc! Nhưng mà, nếu ta biết lợi dụng của ấy thì ta lại làm cho nó trở ra có nghĩa, chẳng tốt hơn sao! Chớ nếu mình chê mà không lảnh, rồi cũng không ai được lảnh, thì của ấy phải nhập quan; té ra cũng chẳng có ích gì cho ai hết cả. Chi bằng mình lảnh lấy đem về, rồi lựa những giấy nợ, hoặc kêu mấy người thiếu nợ đến mà cho, hoặc đốt hết đi mà làm phước. Còn những vườn đất mà cô với giượng xiết nợ của người nào thì kêu người nấy mà cho họ lai. Còn chỉ tồn lại số bạc bao nhiêu, thì ta coi những con trẻ trong làng, lựa những đứa nào mà có khiếu thông-minh, thì ta giúp học-phí cho chúng nó sang Tây du học. Ví bằng mà có còn dư nữa, thì ta lại chọn những hội nào mà chuyên lo công ích cho đời, thì ta đem hết mà dâng cho hội ấy chẳng tốt lắm sao? Thầy-nó nghĩ coi, làm như vậy thì có phải là của bất nghĩa mà mình làm ra việc nghĩa hay không? » Đỗ-khắc-Xương nghe lời vợ nói rất hay, rất có lý thú; bèn vổ vai vợ mà nói rằng: « Thiệt chị-hai-nó là đờn-bà con-gái mà chí khí rất cao, có vợ mà được như vầy thì quí biết dường nào! » Bèn lấy giấy viết khai, cho đi mời làng đến thị nhận cho mình và có mấy ông hương-lão cũng đứng vào làm chứng chắc chắn rằng mình là cháu ruột của Đỗ-thị-Bườn, xin thừa nhận gia-tài sự-sản của cô mình.
Đâu đấy xong rồi, sáng ra bũa sau Đỗ-khắc-Xương bèn đem lá khai ấy với một tờ tông-chi tộc-phái và một lá khai-sanh đến trình với Tòa mà xin thừa nhận của ấy. Tòa xét đã rõ ràng bằng cớ rồi, liền lên án cho Đỗ-khắc-Xương thừa nhận sản-nghiệp của Đỗ-thị-Bườn và Phùng-văn-Chỉnh.
Khi Đỗ-khắc-Xương được quản lảnh trọn hết gia-tài sự-sản của Thị-Bườn rồi, bèn thưa lại cho hai bà mẹ hay, và cũng tỏ cái ý-kiến của vợ mình cho vợ chồng Hạo Nhiên nghe. Hạo-Nhiên với Lệ-Dung nghe rõ những việc của vợ chồng Khắc-Xương tính làm như vậy thì lấy làm kính phục cái cao-nghĩa ấy vô cùng.
Rồi đó Đỗ-khắc-Xương bèn dạy gia-dịch trong nhà, vật heo vật bò làm thịt, mời hết làng xóm và mấy người thiếu nợ đến mà đải đằng một bữa, rồi lấy hết giấy nợ đem ra mà đốt ráo. Lại cho kêu những người đã bị cô giượng mình xiết-đất đoạt vườn mà trừ nợ thuở nay đó tới, rồi của ai thì cho lại nấy. Ôi! Lúc bấy giờ, những người thiếu nợ và mấy người bị đoạt đất xiết vườn, thảy đều mừng rở và thâm cảm cái lòng khẳng-khái của Khắc-Xương; bỡi đó cho nên, người niệm phật, kẻ vái trời mà xưng tụng cái lòng hào-hiệp và cái chí thanh-cao của hai vợ chồng chàng Đỗ.
Còn lại bao nhiêu vườn ruộng, Đỗ-khắc-Xương cũng bán hết rồi nhập với số bạc hiện còn trong tủ; đem ra, lớp thì giúp cho con nhà nghèo sang Tây du học, lớp thì cất nhà trường thêm, rước mấy thầy thất vận về để nuôi dạy những con trẻ mồ-côi trong làng, hoặc cho hội nầy, hoặc giúp hội kia. Lại xin phép quan mà lập một nhà hội Giảng-Báo ở trong làng, gởi mua đủ hết các thứ nhựt-báo quốc-văn trong Nam ngoài Bắc, rồi bốn vợ chồng là: Đỗ-Từ Trần-Nguyễn, cứ luân phiên nhau, hễ mỗi ngày chúa-nhựt thì mời hết dân trong làng tựu nhau tại nhà Hội, rồi lựa những bài nào có giá trị, có thể bổ ích được cho quốc-dân, thì đọc hết và giảng giải rỏ ràng cho ai nấy nghe.
Hễ ngày nào mà giảng giải cho đờn-bà và con-gái nghe, thì về phần Từ-mộ-Trinh với Trần-lệ-Dung; còn ngày nào mà giảng giải cho đờn-ông và con trai nghe, thì về phần Đỗ-khắc-Xuơng với Nguyễn-hạo-Nhiên lãnh lấy. Nhờ vậy mà không đầy một năm, dân trong làng ấy, mười phần đã được mở mang hết tám, chín.
Đỗ-khắc-Xương lại xuất bạc riêng của mình ra 4 trăm đồng mà xây hai cái nền mộ cho vợ chồng Tám-Chỉnh, đó là chàng ta có ý để huờn cái số bạc của mình vay khi trước, đặng chuộc cái nhà và miếng vườn lại rồi kêu thợ về sữa lại cho rộng rãi và sạch sẽ hơn, rước hai bà mẹ về ở đó với hai vợ chồng. Còn cái nhà mua của Tư-Hổ mà ở xưa rày đó, cũng cất lại tữ tế, để cho hai vợ chồng Nguyễn-hạo-Nhiên với Trần-lệ-Dung ở. Từ đó đến sau hai đàng tới lui với nhau như tình ruột thịt; sanh con đẻ cháu đầy nhà, khổ tận cam lai, đoàn viên một cữa.
Nghĩ lại mà coi, Tạo-vật thiệt khéo xây, như vợ chồng Đỗ-thị-Bườn, nhà đã giàu có tiền bạc dư muôn, lại còn mong lòng tham quấy; gia-tài của cháu ruột mình còn có một miếng đất với một cái nhà, mà cũng cố tình, quyết đoạt cho được mới nghe.
Đến khi nhắm mắt rồi, thì đi lại của cháu cũng giao về cho cháu; thiệt là thiên-lý chiêu chương, tham lam mà hà ích?
Từ đây Hiệp-phố châu huờn, vật qui cố-chủ; Nguyễn, Trần, Từ, Đỗ, sum hiệp một nhà; ấy rỏ ràng, hễ tích thiện chi gia, thì ắt được hưởng muôn vàn hạnh-phước.
CHUNG.

